Sản xuất thử hai giống lúa chịu mặn OM8959 và OM11735 tại vùng đồng bằng sông Cửu Long

Theo đánh giá của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất do biến đổi khí hậu. Đặc biệt theo kịch bản phát thải cao, thì cuối thế kỷ 21 mực nước biển khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang có thể tăng đến 105 cm. Nếu mực nước biển dâng lên 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập. Khi mực nước biển tăng sẽ làm tăng thêm diện tích đất trồng lúa bị nhiễm mặn, điều này sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất và sản lượng lúa gạo của ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung.

Theo Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vụ Đông Xuân 2015-2016, tình hình hạn hán và xâm nhập mặn ở các tỉnh ĐBSCL đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến gần 1 triệu ha, trong đó, diện tích bị thiệt hại trực tiếp là gần 140.000 ha, chiếm gần 10% diện tích lúa Đông xuân 2015-2016 của toàn vùng. Các giống lúa chủ lực cho các tỉnh ven biển hiện nay vẫn còn tồn tại một số giống có chất lượng trung bình như IR50404, OM576, OM2517, CL8, OC10,... chủ yếu là do chúng vừa có khả năng chịu mặn lại vừa ngắn ngày nên rất thuận lợi cho né mặn (thu hoạch trước khi đất bị xâm nhập mặn). Tuy nhiên do phẩm chất thấp, các giống lúa này hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang khuyến khích thu hẹp diện tích để tăng tỷ lệ gạo phẩm chất cao phục vụ cho xuất khẩu.

Hai giống lúa ngắn ngày OM8959 và OM11735 là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Cơ quan chủ trì Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài ThS. Đặng Thị Tho để thực hiện Nghiên cứu chọn tạo giống lúa cực ngắn và ngắn ngày cho vùng đồng bằng sông Cửu Long”, đã được đánh giá có năng suất, chất lượng cao, chống chịu mặn rất tốt. Hai giống lúa OM8959 và OM11735 cũng đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận sản xuất thử theo quyết định số 432/QĐ - TT-CLT ngày 23 tháng 9 năm 2013. Để tiếp tục phát triển các giống lúa này vào sản xuất trên diện rộng và bổ sung vào cơ cấu giống lúa cho vùng đất nhiễm mặn các tỉnh ĐBSCL, thay thế dần các giống lúa chất lượng thấp như IR50404, OM576… Vì vậy, dự án “Sản xuất thử hai giống chịu mặn OM8959 và OM11735 tại vùng đồng bằng sông Cửu Long” là rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất hiện nay.

Sau thời gian tiến hành nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

* Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ sạ và mức phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa OM8959 thương phẩm

- Các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa OM8959 thương phẩm: Trong vụ Đông Xuân 2017-2018 cho thấy, các mức phân đạm khác nhau và mật độ sạ khác nhau có ảnh hưởng đến số bông/m2 và số hạt chắc/bông nhưng không ảnh hưởng tới khối lượng 1000 hạt. Số hạt chắc/bông chỉ tăng khác biệt mang ý nghĩa thống kê so với đối chứng ở các mật độ gieo sạ M100 và M125 (100 và 125 kg/ha). Tương tự, giữa các tổ hợp tương tác lượng đạm bón và lượng giống gieo, không có sự khác biệt rõ rệt về các yếu tố cấu thành năng suất.

Trong vụ Hè Thu 2018 mật độ sạ và mức phân đạm bón khác nhau thì các yếu tố cấu thành năng suất cũng có sự khác biệt khác nhau. Số bông/m2 chỉ tăng khác biệt ở các mật độ sạ cao hơn. Về sự tương tác giữa hai yếu tố mật độ sạ và mức đạm bón đến số bông/m2, số hạt chắc/bông thì không có sự khác biệt nhiều vầ các yếu tố cấu thành năng suất giữa các tổ hợp tương tác.

- Năng suất thực thu trung bình (tấn/ha) của giống lúa OM8959 thương phẩm: Về năng suất, kết quả thu được cho thấy các mức đạm bón và lượng giống sạ khác nhau có ảnh hưởng đến năng suất của giống OM8959 khi xét riêng trung bình theo từng nhân tố chính phụ, cũng như theo các tổ hợp tương tác mức đạm và lượng giống sạ.

Trong đó, các mức đạm bón khác nhau đã làm tăng năng suất thực thu từ 3,99 đến 4,43 tấn/ha, trong đó năng suất đạt cao nhất 4,43 tấn/ha ở mức phân đạm P2 (80 kg N/ha). Ở các mật độ sạ khác nhau năng suất thực thu khác nhau và có khuynh hướng tăng dần từ M75 (3,89 tấn/ha) đạt cao nhất là M100 (4,43 tấn/ha), giảm xuống khi sạ mật độ M125 (4,16 tấn/ha) và M130 (4,33 tấn/ha) nhưng đến M150 năng suất giảm xuống (4,14 tấn/ha). Trong các nghiệm thức tổ hợp tương tác lượng đạm bón và lượng giống gieo, không có khác biệt về năng suất thực thu so với đối chứng.

Tuy nhiên, khi so sánh năng suất thực thu giữa các tổ hợp với nhau thì nhận thấy có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê, trong đó năng suất thực thu cao nhất ở tổ hợp P2 M100 (80 kg N/ha x 100 kg giống/ha), đạt 4,95 tấn/ha, hơn hẳn các tổ hợp còn lại. Kết quả cho thấy giống lúa OM8959 khi canh tác trong vụ Đông xuân 2017-2018 mật độ sạ 100kg/ha và bón phân theo công thức 80 N-50 P2O5-40 K2O kg/ha sẽ cho các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất trung bình cao hơn so với các nghiệm thức khác và đối chứng.

* Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ sạ và mức phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa OM11735 thương phẩm.

- Các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa OM11735 thương phẩm: Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ sạ và lượng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa OM11735 vụ Đông xuân 2017-2018 và vụ Hè thu 2018 cho thấy, các mức phân đạm khác nhau và mật độ sạ khác nhau có ảnh hưởng đến số bông/m2 và số hạt chắc/bông nhưng không ảnh hưởng tới khối lượng 1000 hạt. Khi tăng mật độ sạ đã làm tăng số bông/m2 ở các mật độ sạ 100 kg/ha, 125 kg/ha và không khác biệt so với đối chứng 130 kg/ha và mật độ sạ dày hơn 150 kg/ha ở cả hai vụ theo dõi. Tuy nhiên tăng mật độ sạ không làm tăng số hạt chắc/bông. Khi tăng mức phân đạm cũng đã làm tăng số bông/m2 ở mức phân 100 kg N/ha trong vụ Đông xuan và 80 kg N/ha trong vụ Hè thu và không khác biệt so với mức phân đối chứng 110 kg N/ha và mức phân cao 120 kg N/ha. Tuy nhiên tăng mức phân chỉ làm tăng số hạt chắc/bông có ý nghĩa từ 60 kgN/ha lên 80 kg N/ha trong vụ Hè thu 2018.

Có sự tương tác giữa các tổ hợp lượng đạm bón x mật độ sạ đến số bông/m2. Giữa các tổ hợp tương tác lượng đạm bón x mật độ sạ, không có sự khác biệt rõ rệt về các yếu tố cấu thành năng suất. Do đó, mật độ sạ quá thưa hay quá dày cũng như bón phân đạm quá thấp hay càng cao cũng không làm tăng năng suất lúa.

- Năng suất thực thu trung bình (tấn/ha) của giống lúa OM11735 thương phẩm: Trong vụ Đông xuân 2017-2018, mật độ sạ thưa M75 (75 kg giống/ha) hay quá dày M150 (150 kg giống/ha) không làm tăng năng suất so với mật độ sạ M100, M125 và đối chứng M130. Năng suất lúa tương đương nhau khi sạ mật độ M100 (4,00 tấn/ha), M125 (4,02 tấn/ha) so với đối chứng M130 (3,97 tấn/ha) qua phân tích thống kê. Đối với vụ Hè thu thì năng suất lúa tương đương nhau khi sạ mật độ M100 (100 kg giống/ha), M125 (125 kg giống/ha) và M150 (150 kg giống/ha) so với đối chứng M130 (130 kg giống/ha) từ 5,81 -6,14 tấn/ha. Trong đó, năng suất cao nhất khi sạ mật độ M125 (125 kg giống/ha) với 6,14 tấn/ha và thấp nhất khi sạ mật độ M75 (75 kg giống/ha) với 5,59 tấn /ha.

Tương tự như mật độ sạ thì mức bón đạm quá thấp P1 (60 kg N/ha) hay quá cao P5 (120 kg N/ha) cũng không làm tăng năng suất lúa so với mức bón P2 (80 kg N/ha), P3 (100 kg N/ha) và đối chứng P4 (110 kgN/ha) trong vụ Đông Xuân. Năng suất lúa thực tế trung bình thu được khi mức bón đạm P2 (80 kg N/ha) là 4,41 tấn/ha và N100 (100 kg N/ha) là 4,01 tấn/ha và tương đương với đối chứng P4 (110 kgN/ha) 21 với 3,88 tấn/ha. Đối với vụ Hè thu, mức bón đạm quá thấp P1 (60 kg N/ha) hay quá cao P5 (120 kg N/ha) cũng không làm tăng năng suất lúa so với mức bón P2 (80 kg N/ha), P2 (100 kg N/ha) và đối chứng P4 (110 kg N/ha). Năng suất lúa thực tế trung bình cao nhất là 6,14 tấn/ha khi mức bón đạm P3 (100 kg N/ha) và tương đương với mức bón đạm P2 (80 kg N/ha) là 5,81 tấn/ha cao hơn so với đối chứng P4 (110 kgN/ha) 5,92 tấn/ha.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 16870/2019) tại Cục Thông tin KHCNQG.

Đ.T.V (NASATI)