Hiệu ứng nhà kính và tác hại của hiệu ứng nhà kính

Một trong những vấn đề mang tính toàn cầu, ảnh hưởng đến tới hầu hết các nước trên thế giới, và được đông đảo sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà cầm quyền hiện nay chính là: Hiệu ứng nhà kính.

Vậy hiệu ứng nhà kính là gì?

Năm 1827, nhà toán học người Pháp Joseph Fourier đưa ra nguyên lý giải thích hiện tượng hiệu ứng nhà kính được giới khoa học hết sức quan tâm. Theo ông, hiệu ứng nhà kính dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ ở những chỗ được chiếu sáng.

Trên thực tế bề mặt Trái đất chỉ hấp thụ chưa đến một nửa năng lượng của mặt trời, trong khi bầu khí quyển hấp thụ 23% và phần còn lại được phản xạ trở lại không gian. Các quá trình tự nhiên đảm bảo rằng lượng năng lượng đến và đi bằng nhau, giữ cho nhiệt độ của hành tinh ổn định.

Tuy nhiên, những hành động khai thác quá mức nguồn khí đốt tự nhiên như dầu khí, than đá…, và nạn chặt phá rừng bừa bãi của con người dẫn đến việc tăng phát thải khí nhà kính. Vì không giống như các khí khác như oxy và nitơ, khí nhà kính bị mắc kẹt trong bầu khí quyển không thể thoát ra khỏi hành tinh được. Nên khí nhà kính lại quay trở lại bề mặt, nơi nó được tái hấp thu.

Khí , metan và oxit nitơ là những khí nhà kính chính đáng lo ngại.  tồn tại trong khí quyển 1.000 năm, metan tồn tại trong khoảng 10 năm và oxit nitơ tồn tại trong khoảng 120 năm. Trong khoảng thời gian 20 năm, metan tác động đến hiện tượng nóng lên toàn cầu gấp 80 lần so với , trong khi oxit nitơ mạnh gấp 280 lần.

Vì năng lượng đi vào nhiều hơn năng lượng đi ra khỏi hành tinh, khiến nhiệt độ bề mặt tăng lên cho đến khi đạt được sự cân bằng mới. Sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu đã kéo theo những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đến khí hậu và môi trường tự nhiên như những hiện tượng thời tiết cực đoan (lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, bão, lốc xoáy,…).

Sự nóng lên toàn cầu đã thay đổi hoàn toàn điều kiện sống của các loại sinh vật trên Trái đất, một số loại không thể thích nghi để phát triển được sẽ bị thu hẹp về số lượng hoặc tệ hơn là bị xóa sổ hoàn toàn.

Hiệu ứng nhà kính còn khiến mực nước biển dâng cao, khiến đất đai bị nhiễm mặn, dẫn đến chất lượng và số lượng nguồn nước ngọt dùng cho sinh hoạt của con người, cho nông nghiệp, công nghiệp bị ảnh hưởng. Ở một số nơi mưa nhiều gây ra lụt lội thường xuyên, khiến việc trồng trọt và nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn.

Nhiều loại bệnh tật mới đối với con người xuất hiện, các loại dịch bệnh lan tràn, sức khoẻ của con người bị suy giảm. Số người chết vì nóng có thể tăng do nhiệt độ cao trong những chu kì dài hơn trước. Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ có thể đẩy mạnh các bệnh truyền nhiễm.

Mặc dù trong hai năm đại dịch COVID-19 bùng phát, khí nhà kính đã giảm đi đáng kể nhưng đó chỉ là tạm thời. Biện pháp lâu dài và bền vững nhất chính là sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng điện, xăng đầu, than…, và thay thế bằng nguồn năng lượng xanh thân thiện với môi trường như năng lượng mặt trời, gió, thủy triều, địa nhiệt, sinh học… Ngăn chặn nạn chặt phá rừng bừa bãi, tích cực trồng nhiều cây xanh nhằm làm giảm lượng khí CO2 trong bầu khí quyển.

Triệu Cẩm Tú (NASATI), tổng hợp, 5/2022