Nghiên cứu chế tạo tấm xốp > 95% Al2O3 nhằm sử dụng làm vật liệu kết cấu cách nhiệt trong chế tạo lò nung nhiệt độ cao

Trước sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp đòi hỏi phải sử dụng các lò thí nghiệm, lò công nghiệp, các thiết bị gia nhiệt hoạt động ở nhiệt độ cao > 1550 độ C. Các nhà máy vật liệu chịu lửa của nước ta hiện cũng đã và đang cung ứng cho thị trường các chủng loại vật liệu chịu lửa xốp làm việc ở nhiều điều kiện khác nhau. Tuy nhiên, công nghệ sản xuất tấm xốp cách nhiệt cao nhôm (> 95% Al2O3) hoạt động ở nhiệt độ cao đến 1750 độ C vẫn là vấn đề hoàn toàn mới và chưa có đơn vị nào ở Việt Nam nghiên cứu, sản xuất. 

Với các sản phẩm vật liệu chịu lửa cách nhiệt hoạt động ở nhiệt độ cao từ các nguồn nguyên liệu như oxit nhôm. Được sử dụng để lắp ráp, thay thế trong các lò thí nghiệm, các hệ thống lò làm việc ở nhiệt độ cao (> 1550 độ C), hoàn toàn phải nhập ngoại như các sản phẩm từ Đức, Nhật, Trung Quốc… Vì vậy, nghiên cứu, làm chủ công nghệ sản xuất tấm xốp cách nhiệt cao nhôm hoạt động ở nhiệt độ cao là bước đi cần thiết để đáp ứng nhu cầu thực tế đòi hỏi ngày một cao. Xuất phát từ thực tế đó, từ năm 2015-2016, nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu sành sứ thủy tinh công nghiệp đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chế tạo tấm xốp > 95% Al2O3 nhằm sử dụng làm vật liệu kết cấu cách nhiệt trong chế tạo lò nung nhiệt độ cao”. Chủ nhiệm đề tài là KS. Mai Văn Dương.

Một số kết quả nổi bật của nghiên cứu:

- Nghiên cứu tổng quan, cơ sở lý thuyết sản xuất sản phẩm tấm xốp cao nhôm

- Khảo sát được các đặc điểm tính chất của các loại nguyên liệu, phụ gia sử dụng: thành phần hóa, thành phần khoáng, cỡ hạt…

- Khảo sát tạo sản phẩm tấm xốp bằng hai phương pháp tạo hình: đúc rót và ép bán khô

- Lựa chọn được bài phối liệu hợp lý: M22 - đi kèm là phương pháp tạo hình và quy trình nung phù hợp

- Đưa ra được quy trình công nghệ sản xuất tấm xốp cao nhôm với hàm lượng oxit nhôm > 95%, có các tính chất kỹ thuật đảm bảo mục tiêu của đề tài đề ra.

- Chế thử được đủ 5kg sản phẩm tấm xốp cao nhôm theo quy trình công nghệ trên.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 13495/2017) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

N.T.T (NASATI)