Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vi sinh vật có dầu

Lượng dầu thực vật tiêu thụ bình quân đầu người hiện nay ở nước ta đạt từ 8-9 kg/năm, thấp hơn nhiều so với 13,5 kg/người/năm bình quân của thế giới. Nhu cầu dầu thực vật trong nước vẫn tiếp tục tăng, 16 kg/người vào năm 2020 và 18 kg/ người vào năm 2025 theo dự báo của Bộ Công Thương. Tuy nhiên, ngành công nghiệp dầu thực vật Việt Nam hiện phải nhập khẩu hơn 90% nguyên liệu. Do đó, nghiên cứu gia tăng năng suất, sản lượng các giống cây có dầu truyền thống (dừa, lạc, vừng, đậu tương) đồng thời, tìm kiếm các nguồn nguyên liệu mới cần đặt ra.

Vi sinh vật được nghiên cứu, khai thác gần đây ở khía cạnh lipid, đặc biệt là đối tượng vi tảo. Các chủng vi tảo có hàm lượng dầu cao, nằm trong khoảng từ 20-60%, đạt 24.000-120.000 lít dầu/ha/năm. Trong khi đó, năng suất dầu của các cây có dầu thấp hơn nhiều, ví dụ: cây cọ dầu là cây có năng suất dầu cao nhất, chỉ đạt được khoảng 6.000 lít/ha/năm. Dầu của vi tảo không khác dầu thực vật và được sử dụng cho các mục đích khác nhau: thực phẩm, năng lượng, y học, mỹ phẩm.

Trước đòi hỏi thực tế về tình trạng thiếu hụt nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp dầu thực vật, tiềm năng sản xuất dầu từ vi sinh vật, nhiệm vụ “Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vi sinh vật có dầu” do ThS. Trần Yên Thảo, Viện nghiên cứu Dầu và Cây làm chủ nhiệm đã được Bộ Công Thương phê duyệt thực hiện nhằm mục đích thu thập, bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vi sinh vật phục vụ phát triển ngành dầu thực vật, phục vụ phát triển ngành dầu thực vật Việt Nam thông qua khai thác nguồn dầu mới từ vi sinh vật, đa dạng hóa nguồn dầu cho công nghiệp sản xuất dầu thực vật và các sản phẩm từ dầu.

Sau 4 năm thực hiện nhiệm vụ xây dựng bộ giống vi tảo dầu từ năm 2014 đến 2017, nhiệm vụ đã đạt được một số kết quả đáng chú ý như sau:

- Phân lập được 31 chủng vi tảo dầu bản địa từ các nguồn nước tự nhiên ở trong nước;

- Bộ giống 31 chủng vi tảo đã được xác định về các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm nuôi cấy, nghiên cứu ảnh hưởng của của các yếu tố đến sinh trưởng của các chủng vi tảo (pH, nhiệt độ, CO2, Nitơ, Zn, muối);

- Đã đánh giá khả năng tích lũy sinh khối, sinh lipid, thành phần acid béo, hàm lượng chlorophill, carotenoid của 31 chủng vi tảo;

- Đã xác định đặc trưng phân tử (trình tự gen 18S rRNA) và xác định tên giống đến loài của 31 chủng;

- 10 chủng trong bộ giống đã được khảo sát, đánh giá về tốc độ tăng trưởng, tốc độ sinh lipid và chọn lọc được 3 chủng vi tảo vừa sản xuất sinh khối cao vừa tích lũy lipid cao (QG - L1, QG - L4, QG - N1);

- Tất cả các đặc tính của các chủng được mô tả, tổng hợp và tư liệu hóa;

- Bộ giống được bảo quản an toàn, thuần chủng tại Bộ môn Công nghệ Sinh học, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu;

- Nhiệm vụ đã hoàn thành vượt mức so với hợp đồng: đã tham gia đào tạo 02 thạc sỹ chuyên ngành công nghệ sinh học (01 đã tốt nghiệp, 01 đang chuẩn bị thực hiện luận văn tốt nghiệp); đã công bố kết quả nghiên cứu trong các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 15066/2018) tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia.

P.K.L (NASATI)