Nghiên cứu cơ chế tác dụng chống viêm của một số hợp chất oligostilbenoid phân lập từ các loài Nho dại (Vitis sp.) thu hái ở miền Bắc Việt Nam

Ở Việt Nam, ngoài loài nho cho khai thác quả Vitis vinifera còn có nhiều loài nho mọc hoang dại khác
phân bố phổ biến ở khu vực miền núi phía bắc như Vitis labrusca L (Nho chồn), Vitis balansana Planch.
(nho đất, nho dại nhỏ quả), Vitis flexnosa Thunb. (Nho dại, nho cong queo), Vitis heyneana Roem. &
Schult (Vitis pentagona Diels et Gilg) (Nho rừng, Nho lông, Nho năm góc), Vitis retordii Rom. Caill. ex
Planch. (Nho lông hoe), V. retordii, V. balansaeana (nho đất)... Chúng được sử dụng nhiều trong y học cổ
truyền với tác dụng chống viêm như thuốc cầm máu, tiêu sưng, chống viêm, trị phong thấp, khớp xương
đau nhức, viêm gan vàng da, mụn nhọt, viêm vú, viêm khớp, tác dụng chống oxy hóa. Hai báo cáo khoa
học đã phân lập được một số chất từ loài V. flexuosa như gnetin A, (+)-epsilon-viniferin, vitisin A,
flexuosol A, hopeaphenol và chứng minh tác dụng chống oxy hóa của chúng. Tuy nhiên, cho đến nay hầu
như vẫn chưa có các báo cáo về thành phần hóa học cũng như chứng minh cơ chế tác dụng chống viêm
bằng phương pháp dược lý hiện đại của loại dược liệu này. Do vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra cần có một
nghiên cứu toàn diện về thành phần hóa học cũng như tác dụng sinh học của một số loài thuộc chi Vitis L.
được dùng làm thuốc tại Việt Nam. Việc tiến hành nghiên cứu toàn diện này sẽ đóng góp những dữ liệu
khoa học nhằm sáng tỏ việc sử dụng cây thuốc này theo tri thức dân gian dưới góc nhìn khoa học hiện đại.

Một số loài thuộc chi Vitis phân bố ở một số vùng ở Việt Nam. Mẫu nghiên cứu thu thập đủ thông tin cung
cấp cho chuyên gia về phân loại thực vật nhằm giám định tên khoa học đảm bảo tính đúng của mẫu. Các
mẫu sau khi giám định tên khoa học thu đủ lượng để sàng lọc tác dụng chống viêm in vitro sau đó lựa chọn
1-2 mẫu tiềm năng nghiên cứu thành phần hóa học (chiết xuất, phân lập, xác định cấu trúc) và đánh giá cơ
chế tác dụng theo hướng chống viêm.
Nhóm nghiên cứu do Cơ quan chủ quản Qũy Khoa học và Công nghệ QG phối hợp với Chủ nhiệm đề tài
PGS.TS. Đỗ Thị Hà cùng thực hiện với mục tiêu Phân lập được một số chất tinh khiết có tác dụng chống
viêm từ các loài nho Vitis sp. và xác định cơ chế tác dụng chống viêm của các hợp chất đó.
Đề tài đã thu thập 06 mẫu các loài thuộc chi Vitis và đã giám định tên khoa học các loài này gồm Nho dại
(Vitis retordii Rom. Caill. Ex Planch.), Nho lông hoe (Vitis balansana Planch., VB), Nho dại (Giác, Vác,
Dây vác) có tên khoa học Vitis trifolia L., Nho rừng (Vitis heyneana Roem. & Schult, VH), Nho (Vitis
vinifera L., VR), Nho (Vitis labrusca L., VL). Trong đó 4 loài thu mẫu khối lượng lớn để sàng lọc hoạt tính
kháng viêm in vitro trên COX-2 gồm VH, VR, VB, VV. Kết quả nghiên cứu lựa chọn loài VH có hoạt
tính ức chế COX-2 tốt nhất trong đó phân đoạn ethyl acetat của cao chiết cồn VH có hoạt tính mạnh nhất

trong số các mẫu cao chiết sàng lọc trên cùng mô hình. Kết quả nghiên cứu sàng lọc hoạt tính kháng viêm
đã lựa chọn được loài VH để nghiên cứu chiết xuất, phân lập và tinh chế các hợp chất với mục tiêu tìm
kiếm hoạt chất có hoạt tính kháng viêm. Đề tài đã phân lập 11 hợp chất stilbenoid và oligostilbenoid từ
phân đoạn ethyl acetat của loài VH gồm piceid (1, code VH02), 2-r-viniferin (2, VH03), betulifol A (3,
VH04), vitisinol C (4, VH06), (+)-trans-viniferin (5, VH07), αviniferin (6, VH08), shoreaketon (7,
VH11), trans-amurensin B (8, VH13), vitisinol B (9, VH15), and cis-vitisin B (10, VH16), resveratrol (11,
VHR). Ngoài ra, đề tài cũng đã triển khai nghiên cứu thành phần hóa học trên loài VB-là loài có tác dụng
ức chế COX-2 tương đối tốt đã phân lập lập được 5 hợp chất thuộc các nhóm stilbenoid, phenolic đơn giản
và flavonoid glycosid gồm trans-resveratrol (VB1), quercetin (VB2), 5- (hydroxymethyl)-2-furfural (VB3),
acid gallic (VB4), quercetin 3-O-β-D-glucuronid methyl ester (VB5).
Do nhóm chất chính trong các loài thuộc chi Vitis là các stilbenoid và oligostilbenoid vì vậy nhóm nghiên
cứu tập trung sàng lọc hoạt tính kháng viêm in vitro trên ức chế COX-2 của 11 hợp chất phân lập từ phân
đoạn ethyl acetat loài VH. Kết quả sàng lọc ban đầu đã lựa chọn được hoạt chất tiềm năng là (+)-trans-
viniferin (5, VH07) và resveratrol (VHR) để nghiên cứu sâu về cơ chế kháng viêm trên một số đích tác
dụng. Nghiên cứu cũng đã bước đầu định lượng 2 hoạt chất đồng thời là chất chính trong loài VH bằng pp
HPLC. Kết quả cho thấy hàm lượng tổng các hoạt chất này thay đổi tùy vùng thu mẫu (1087.58 ± 18.94
µg/g đến 5745.24 ± 73.88 µg/g).
Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 15292/2018) tại Cục Thông tin KHCNQG.

Đ.T.V (NASATI)