Phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình
Cập nhật vào: Thứ tư - 18/03/2026 09:02
Cỡ chữ
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng đã ký ban hành Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.

1. Mục tiêu
Mục tiêu đến năm 2035
a) Mục tiêu tổng quát
Phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử bảo đảm an toàn, an ninh, phục vụ hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng quốc gia, góp phần đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Đưa vào vận hành các nhà máy điện hạt nhân một cách an toàn, hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hoàn thành một số nhiệm vụ cơ bản trong chương trình phát triển điện hạt nhân. Mở rộng ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - kỹ thuật. Hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn, an ninh.
b) Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2030:
- Phát triển điện hạt nhân
+ Các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 được triển khai bảo đảm an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu và tiến độ được giao.
+ Cơ sở hạ tầng điện hạt nhân được phát triển phù hợp với hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và thực tiễn Việt Nam.
+ Hình thành nền tảng vững chắc để tiếp thu và làm chủ công nghệ lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ.
- Phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ
+ Mạng lưới cơ sở y tế chuyên ngành điện quang, y học hạt nhân, ung bướu - xạ trị được phân bố hợp lý giữa các vùng, địa phương; đạt tỷ lệ bình quân 15 máy CT/triệu dân; 0,5 máy xạ hình/triệu dân; 1,1 máy xạ trị gia tốc/triệu dân; 1 máy chụp can thiệp mạch (DSA)/triệu dân; 50% cơ sở tuyến chuyên môn cơ bản có máy chụp X-quang vú; bảo đảm cung cấp thuốc phóng xạ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước. Nâng cao hiệu quả, bảo đảm chất lượng và an toàn bức xạ trong chẩn đoán, điều trị.
+ Nghiên cứu, tiếp thu, chuyển giao, làm chủ các công nghệ mới về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các lĩnh vực chiếu xạ công nghiệp, kiểm tra không phá hủy, kỹ thuật đánh dấu, kỹ thuật soi chiếu, hệ điều khiển hạt nhân; chú trọng các công nghệ có nhu cầu sử dụng lớn, tính cạnh tranh cao, phục vụ phát triển công nghiệp và các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật.
+ Bảo đảm tỷ lệ đóng góp của các ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong ngành nông nghiệp tăng tối thiểu 10% hằng năm; duy trì vị trí số 1 Đông Nam Á về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong chọn tạo giống đột biến.
+ Tăng cường, mở rộng phát triển ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong tài nguyên và môi trường, góp phần nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính.
- Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển nguồn nhân lực
+ Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân để có đủ năng lực hỗ trợ tiếp thu, làm chủ, chuyển giao và phát triển công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật có khả năng thương mại hóa; năng lực hỗ trợ kỹ thuật phục vụ phát triển điện hạt nhân được tăng cường.
+ Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân tại Đồng Nai được hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành.
+ Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia và hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân được tăng cường năng lực, bảo đảm tài chính, nhân lực đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân và thanh sát hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, tập trung nâng cao năng lực thẩm định, kiểm tra, giám sát, thanh tra an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân.
+ Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia được triển khai hoạt động hiệu quả với quy mô phủ rộng toàn quốc.
+ Việc quản lý an toàn, an ninh đối với chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng trên toàn quốc được thực hiện bảo đảm đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và triển khai các dự án điện hạt nhân.
+ Phát triển đội ngũ khoảng 2.000 nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - triển khai và hỗ trợ kỹ thuật phục vụ phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân; bổ sung 120 giảng viên các chuyên ngành điện hạt nhân; đào tạo, bồi dưỡng và huy động đủ nhân lực phục vụ dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2.
Đến năm 2035:
- Phát triển điện hạt nhân
+ Hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành an toàn 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2; phấn đấu mức tham gia của các doanh nghiệp trong nước đạt tỷ lệ 30% tổng mức đầu tư các hạng mục xây dựng, lắp đặt của các hạng mục phụ trợ dự án điện hạt nhân.
+ Phấn đấu triển khai ít nhất 01 dự án nhà máy điện hạt nhân sử dụng công nghệ lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ.
+ Hoàn thành phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân; hoàn thành định hướng phát triển các dự án điện hạt nhân tiếp theo theo hướng an toàn, bền vững và hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
- Phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ
+ Nâng quy mô và hiệu quả kinh tế của các ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành và lĩnh vực, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 10 - 15%/năm.
+ Y học bức xạ đạt trình độ tiên tiến trong các nước ASEAN, phấn đấu đạt 20 máy CT/triệu dân, 10 máy MRI/triệu dân, 1 máy xạ hình/triệu dân, từ 1-2 máy xạ trị gia tốc/triệu dân, đạt tỷ lệ 100% X-quang số; sản xuất các loại thuốc phóng xạ, đồng vị đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; nghiên cứu đầu tư, phát triển ứng dụng các công nghệ xạ trị tiên tiến như xạ trị proton.
+ Làm chủ các kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ tiên tiến trong quản lý chất lượng công trình, chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa quá trình công nghiệp, xử lý và biến tính vật liệu; chế tạo, sản xuất một số loại thiết bị bức xạ và thiết bị ghi đo bức xạ có nhu cầu lớn trong các ngành kinh tế - xã hội thay thế cho nhập khẩu.
+ Tỷ lệ đóng góp của các ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong ngành nông nghiệp tiếp tục được duy trì, tăng tối thiểu 10% hằng năm; ứng dụng đột biến phóng xạ để chọn tạo được 5-10 giống cây trồng chủ lực, có năng suất, chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu.
+ Ứng dụng công nghệ bức xạ và đồng vị phóng xạ tiên tiến trong nghiên cứu, quan trắc khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước; kiểm soát và xử lý chất thải, ô nhiễm môi trường; nghiên cứu tiến tới làm chủ, phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến và sử dụng quặng đất hiếm, tiếp tục thăm dò các khoáng sản quan trọng chiến lược.
- Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển nguồn nhân lực
+ Phát triển hệ thống các cơ sở nghiên cứu tiên tiến, trong đó tập trung đầu tư hình thành 02 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ điện hạt nhân, công nghệ đất hiếm, urani, titan; 03 - 05 phòng thí nghiệm tiên tiến.
+ Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia và hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân có đủ các nguồn lực để thực hiện công tác quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân và thanh sát hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, đặc biệt là các nhiệm vụ thẩm định, kiểm tra, giám sát, thanh tra dự án nhà máy điện hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu. Các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật trong nước được tăng cường năng lực phục vụ phát triển điện hạt nhân.
+ Bảo đảm lựa chọn địa điểm cơ sở lưu giữ, xử lý và chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng đáp ứng nhu cầu thực tế và các yêu cầu về an toàn, an ninh và bảo vệ môi trường. Vận hành hiệu quả mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia.
+ Phấn đấu có 04 - 05 nhóm nghiên cứu có khả năng làm chủ một số công nghệ hạt nhân hỗ trợ các dự án điện hạt nhân và lò phản ứng nghiên cứu. Đầu tư 03 - 05 cơ sở đào tạo đại học về điện hạt nhân đạt trình độ tiên tiến, ngang tầm quốc tế.
+ Phát triển đội ngũ khoảng 2.500 nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - triển khai và hỗ trợ kỹ thuật; 250 giảng viên các chuyên ngành liên quan đến năng lượng nguyên tử, điện hạt nhân; khoảng 200 nhân lực phục vụ nhà máy điện hạt nhân lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ; khoảng 3.900 nhân lực đáp ứng nhu cầu thực tế cho các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.
Tầm nhìn đến năm 2050
- Năng lượng nguyên tử trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật, đóng góp quan trọng cho an ninh năng lượng, kinh tế xanh và phát triển bền vững đất nước.
- Tỷ trọng điện hạt nhân đóng góp khoảng 6 - 8% trong tổng sản lượng điện quốc gia, bổ sung thêm khoảng 04 lò phản ứng hạt nhân công suất lớn và 10 - 15 lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ, xem xét nâng cao hơn tỷ trọng điện hạt nhân và cân đối số lượng lò phản ứng hạt nhân công suất lớn, lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ khi điều kiện kinh tế, kỹ thuật thuận lợi, phù hợp với tính toán tối ưu của hệ thống điện. Cơ bản làm chủ công nghệ hạt nhân, phát triển một số tập đoàn, doanh nghiệp dẫn dắt, có năng lực xây lắp, thiết kế, chế tạo, sản xuất vật liệu, thiết bị cho điện hạt nhân.
- Làm chủ công nghệ bức xạ và kỹ thuật hạt nhân tiên tiến trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp, tài nguyên và môi trường, đóng góp hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội. Đưa vào vận hành trung tâm máy gia tốc lớn.
- Tiềm lực, trình độ khoa học và công nghệ hạt nhân của Việt Nam được phát triển ngang bằng với mức trung bình của các nước phát triển, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo đảm nền tảng cho phát triển ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ và điện hạt nhân; trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng hạt nhân khu vực Đông Nam Á.
2. Nhiệm vụ, giải pháp và nguồn lực
(1) Hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực quản lý nhà nước
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, khuyến khích doanh nghiệp tham gia, nhất là với SMR. Đồng thời, củng cố tổ chức, nhân lực, tài chính, hạ tầng kỹ thuật cho cơ quan quản lý an toàn bức xạ, hạt nhân và an ninh hạt nhân.
(2) Phát triển điện hạt nhân
Xây dựng lộ trình triển khai Ninh Thuận 1 và 2 bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn, hiệu quả. Tổ chức chương trình phát triển điện hạt nhân đồng bộ, gồm: phát triển hạ tầng; tích hợp vào quy hoạch điện; rà soát, bổ sung địa điểm; thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ trong nước; quản lý chất thải phóng xạ và nhiên liệu đã qua sử dụng; xây dựng định hướng chu trình nhiên liệu; đào tạo nhân lực; tăng cường truyền thông, xây dựng văn hóa an toàn và an ninh.
(3) Phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ
Trong y tế: Đầu tư thiết bị hiện đại cho chẩn đoán, điều trị; phát triển y học hạt nhân, theranostics, xạ trị; mở rộng công nghệ chiếu xạ khử trùng; đẩy mạnh đào tạo bác sĩ, vật lý y khoa, kỹ thuật viên; tăng cường kiểm soát chiếu xạ; sản xuất thuốc phóng xạ trong nước; xây dựng trung tâm quốc gia về y học bức xạ.
Trong công nghiệp: Mở rộng ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong chiếu xạ công nghiệp, kiểm tra không phá hủy, soi chiếu, điều khiển hạt nhân; thương mại hóa vật liệu, chế phẩm mới; sản xuất một số thiết bị bức xạ, ghi đo bức xạ; nâng năng lực bảo trì, sửa chữa.
Trong nông nghiệp: Nâng cấp cơ sở nghiên cứu, phát triển nhóm mạnh về chọn tạo giống, kiểm soát sinh vật gây hại; mở rộng chiếu xạ thực phẩm, kiểm dịch nông sản; hoàn thiện quy trình sản xuất chế phẩm sinh học thân thiện môi trường; lồng ghép ứng dụng kỹ thuật hạt nhân vào chương trình phát triển địa phương.
Trong tài nguyên và môi trường: Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong điều tra khoáng sản, tài nguyên nước, bảo vệ môi trường, an toàn đê đập, dự báo thiên tai, nghiên cứu biến đổi khí hậu; phát triển các trạm quan trắc; từng bước làm chủ công nghệ khai thác, chế biến đất hiếm và khoáng sản phóng xạ.
(4) Phát triển tiềm lực khoa học - công nghệ, bảo đảm an toàn và an ninh hạt nhân
Xây dựng chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; khai thác hiệu quả Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân tại Đồng Nai; phát triển Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thành đơn vị nòng cốt; đầu tư phòng thí nghiệm, máy gia tốc, hạ tầng mô phỏng; tăng liên kết viện - trường - doanh nghiệp; chuẩn bị dừng hoạt động lò phản ứng Đà Lạt để chuyển đổi thành trung tâm đào tạo - thực hành. Đồng thời, nâng cấp mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường, xác định địa điểm lưu giữ, xử lý chất thải phóng xạ; hoàn thiện hệ thống đo lường, giám sát, ứng phó sự cố và bảo vệ an ninh hạt nhân nhiều lớp.
(5) Phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng chương trình phát triển nhân lực cho quản lý nhà nước, nghiên cứu, ứng dụng và hỗ trợ kỹ thuật; tăng đào tạo chuyên sâu; hoàn thiện chính sách tiền lương, đãi ngộ để thu hút nhân lực chất lượng cao, chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài; tăng liên kết đào tạo với doanh nghiệp; sử dụng hiệu quả đội ngũ đã được đào tạo trước đây; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành về phát triển nhân lực.
(6) Đầu tư và tài chính
Huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, khu vực tư nhân và các nguồn hợp pháp khác; ưu tiên vốn cho hạ tầng, nghiên cứu và đào tạo. Đa dạng hóa nguồn vốn như ODA, vay ưu đãi, PPP; khuyến khích khu vực tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài tham gia công nghiệp năng lượng nguyên tử.
(7) Chuyển đổi số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo
Xây dựng nền tảng số phục vụ quản lý, cấp phép, giám sát an toàn và an ninh hạt nhân; công khai dữ liệu có kiểm soát để tăng niềm tin xã hội; ứng dụng AI trong đánh giá rủi ro, cảnh báo sự cố, chẩn đoán và điều trị trong y học hạt nhân; sử dụng dữ liệu lớn, mô phỏng số, thực tế ảo trong đào tạo, nghiên cứu; bảo đảm nghiêm ngặt an toàn, an ninh mạng.
(8) Thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và đồng thuận xã hội
Triển khai đề án truyền thông về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử; nâng cao năng lực cán bộ tuyên truyền; đa dạng hóa hình thức truyền thông, nhất là trên nền tảng số; đưa nội dung giáo dục về năng lượng nguyên tử và an toàn bức xạ vào chương trình phù hợp; xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả truyền thông và phương án xử lý khủng hoảng thông tin.
(9) Hợp tác và hội nhập quốc tế
Thực hiện hiệu quả các điều ước quốc tế; mở rộng hợp tác với IAEA và các quốc gia có công nghệ hạt nhân tiên tiến; đàm phán, ký kết thỏa thuận phục vụ các dự án điện hạt nhân đầu tiên và Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân. Đồng thời, thúc đẩy mô hình “đồng thiết kế, đồng chế tạo, đồng vận hành, đồng quản lý”; tăng hợp tác ứng phó sự cố xuyên biên giới; nâng cao vai trò của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế; bảo đảm kinh phí cho niên liễm, đào tạo, hợp tác nghiên cứu và huy động chuyên gia quốc tế.
A.T (tổng hợp)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











