Giải pháp khoa học công nghệ và mô hình nuôi trồng thủy hải sản bền vững vùng biển tỉnh Kiên Giang
Cập nhật vào: Thứ ba - 08/07/2025 13:03
Cỡ chữ
Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO) dự báo nhu cầu thủy sản dùng làm thực phẩm sẽ đạt 209,9 triệu tấn vào năm 2030. 70% cần được cung cấp từ nuôi trồng thủy sản.

Năm 2030, nuôi nước lợ chiếm 6,2%, nuôi nước ngọt chiếm 45,45%, và nuôi nước mặn chiếm 48,35% tổng nhu cầu tiêu dùng.
Trước tình hình đó nhiều quốc gia có biển đã tập trung đầu tư phát triển kinh tế biển và chủ yếu là phát triển khai thác dầu khí và nuôi trồng hải sản. Riêng nuôi trồng hải sản đặc biệt là nuôi cá biển, nhiều nước có tốc độ phát triển nhanh Nauy, Chi Lê, Úc, Nhật Bản Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á.
Cá là đối tượng nuôi quan trọng nhất trong nuôi trồng thủy sản thế giới. Năm 2018, sản lượng cá đạt khoảng 54,3 triệu tấn với giá trị 139,7 tỉ USD. Tuy nhiên, sản lượng cá nuôi trong vùng nước nội địa đạt tới 47 triệu tấn.
Biển Việt Nam (VN) có vị trí đặc biệt quan trọng về địa chiến lược, chính trị, kinh tế, tự nhiên. Ven biển Viêt nam lại có hơn 3000 hòn đảo, nhiều vịnh kín, bán kín rất thuận lợi để phát triển nuôi biển, đặc biệt là nuôi cá biển.
Chính phủ Việt Nam đã nhận rõ tiềm năng và luôn đánh giá cao vai trò của biển và kinh tế biển trong phát triển kinh tế. Từ những năm cuối thế kỷ 20, nhà nước Việt Nam đã đầu tư nghiên cứu nhiều lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế biển. Năm 2007, dự án Qui hoạch nuôi cá biển bằng lồng trên phạm vi toàn quốc đầu tiên được triển khai. Bộ NNPTNT giao cho Viện nghiên cứu NTTS I thực hiện. Mục tiêu của Dự án: năm 2020 sản lượng cá biển nuôi lồng đạt 200 ngàn tấn.
Các Đại hội Đảng XI, XII, XIII đều thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 - 2020), nhấn mạnh: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta…”. Ba năm gần đây (2018-2021) Đảng và Nhà nước có các Nghị quyết: số 36 - NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 339/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Mới đây, ngày 04 tháng 10 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ có Nghị quyết số 1664/QĐTTg phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản tren biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Những Quyết đinh đó thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ. Nhưng hiện trạng nuôi cá biển của VN đã và đang phát triển chậm, không đạt mục tiêu đề ra. Kết quả điều tra của Bộ NNPTNT cho thấy: đến năm 2017, sản lượng cá biển nuôi lồng chỉ đạt 10.103/200 ngàn tấn.
So với 27 tỉnh ven biển trong cả nước Kiên Giang có tiềm năng và điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi cá biển bằng lồng. Ngay từ năm 2010, tỉnh đã có chủ trương phát triển ngành này, nhưng năm 2020, nuôi cá biển bằng lồng ở Kiên Giang chỉ đạt 3555 tấn (mục tiêu năm 2020: 6000 tấn).
Để nhanh chóng phát huy tiềm năng, lợi thế, ngày 31 tháng 12 năm 2020, UBND tỉnh Kiên Giang có Quyết định sô 3214/QĐ-UBND phê duyệt đề án phát 3 triển nuôi biển đến năm 2030 tầm nhìn 2045. Quan điểm phát triển của đề án: “Phát triển nuôi biển thành một lĩnh vực sản xuất quy mô công nghiệp tạo khối lượng sản phẩm lớn phục vụ xuất khẩu, du lịch và tiêu thụ nội địa. Chuyển đổi các mô hình nuôi biển quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu sang nuôi biển công nghiệp, quy mô lớn với công nghệ hiện đại và bền vững”. Định hướng đầu tư của đề án: Tập trung đầu tư phát triển nuôi thủy sản lồng bè trên biển qui mô công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao…bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, kết hợp với tham quan du lịch. Đề án có Mục tiêu (2030): sản lượng nuôi biển đạt 207.190 tấn: nuôi cá lồng 105.720 tấn, nuôi nhuyễn thể 101.470 tấn; ngọc trai đạt 520.000 viên.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài TS. Phan Mạnh Hùng cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Kỹ thuật biển thực hiện nghiên cứu “Giải pháp khoa học công nghệ và mô hình nuôi trồng thủy hải sản bền vững vùng biển tỉnh Kiên Giang” với mục tiêu đánh giá hiện trạng và tiềm năng nuôi trồng thuỷ hải sản (tập trung nuôi cá biển) vùng biển Kiên Giang. Đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ và định hướng mô hình nuôi trồng thuỷ hải sản bền vững phù hợp với điều kiện tự nhiên, sinh thái vùng biển Kiên Giang đến năm 2030.
Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Kiên Giang hội đủ điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi biển đặc biệt là nuôi cá biển qui mô công nghiệp. Trong chiến lược phát triển kinh tế biển, nuôi biển đặc biệt nuôi cá biển của cả nước, nếu Kiên Giang phát triển khai thác được tiềm năng có thể đóng góp 50% > sản lượng cá nuôi trong mục tiêu 450 ngàn tấn vào năm 2030 của Chính phủ. Hơn nữa Kiên Giang có tiềm năng phát triển du lịch và đang phát triển nhanh. Du lịch và nuôi cá biển sẽ có thể liên kết hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Tuy nhiên, cho đến nay, trừ việc Chính quyền tỉnh đã bắt đầu quan tâm, một vài DN lớn đã bắt đầu khảo sát và làm các thủ tục đầu tư thì hiện trạng phát triển nuôi biển và nuôi cá biển của Kiên Giang vẫn chưa phát triển hơn 10 năm gần đây. Nuôi cá biển vẫn chỉ có qui mô hộ gia đình, lồng bè tăng nhưng sản lượng cá nuôi gần như không tăng; đối tượng nuôi chủ yếu một số loài cá dùng tươi sống phục vụ khách du lịch; Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ con giống, thức ăn, thuốc phòng chữa bệnh, lồng bè hiện đại ...đến nay vẫn chỉ mới dừng lại ở chủ trương.
Đề tài đã phân tích đánh giá được điều kiện tự nhiên: thủy động lực học, địa hình, hình thái, sóng - gió, thời tiết, khí hậu, sinh thái, sức tải môi trường vùng biển là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn khu vực phù hợp cũng như sản lượng nuôi đảm bảo dưới ngưỡng sức tải môi trường của vùng biển để phát triển nuôi trồng cá biển bền vững ở một số khu vực ở vùng biển tỉnh Kiên Giang.
Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, tổng hợp dữ liệu, phân tích hệ sinh thái thủy vực vùng nghiên cứu cho thấy thành phần loài thủy sinh vật trong khu vực nghiên cứu khá đa dạng và có sự khác biệt giữa hai mùa mưa và khô sau khi kiểm định phương sai (ANOVA) về chỉ số H’ với độ tin cậy 58 95% (p < 0,05) ở cả 3 nhóm sinh vật; độ phong phú của nhóm sinh vật phù du ở mức trung bình, trong khi nhóm sinh vật đáy là phong phú và rất phong phú
Đề tài đã xác định hơn 30 loài tảo độc và tảo gây hại có khả năng sản sinh độc tố là mối đe dọa đến khu hệ động vật và thực vật tự nhiên ở nước, nghề nuôi trồng thủy sản ở vùng biển Kiên Giang. Sự xuất hiện thường xuyên của các loài tảo độc và tảo gây hại trong khu vực nghiên cứu, đặc biệt là các khu vực có nuôi thủy sản sẽ ảnh hưởng xấu đến quá trình nuôi, cũng như chất lượng sản phẩm sau thu hoạch. Vì vậy, cần xây dựng chương trình quan trắc định kỳ để giám sát diễn biến của các loài tảo độc và tảo gây hại, từ đó đưa ra các biện pháp khuyến cáo kịp thời. Ngoài ra, là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa nên có sự khác biệt về sinh thái giữa hai mua mưa và khô. Do đó, trong nuôi trồng thủy sản, cần chú ý đến việc lựa chọn đối tượng nuôi và mùa vụ nuôi thích hợp nhằm giảm thiểu sự rủi ro do sự thay đổi điều kiện môi trường sinh thái từ sự thay đổi mùa gây ra.
Dựa trên phân tích hằng số điều hòa triều cũng như mô hình toán số, kết quả nghiên cứu cho thấy khu vực vùng biển Kiên Giang có sóng nhật triều không đều là chủ đạo. Độ lớn dao động triều ở đây không lớn, giá trị dao động triều sẽ biến động theo thời điểm, tuy nhiên trung bình xấp xỉ chỉ 1m. Mặt khác, tốc độ dòng chảy ở vùng nghiên cứu là không lớn, dao động 20-35cm/s. Riêng khu vực quanh quần đảo Nam Du đến khu vực phía đông đảo Phú Quốc thì tốc độ dòng chảy tăng lên 0,3 – 0,5 m/s, đặc biệt ở khu vực An Thới và Gành Dầu thời điểm lên tới 0,6-0,7m/s.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 20894/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








