Nghiên cứu chọn tạo giống chè xanh năng suất chất lượng cao cho một số vùng chè chính của Việt Nam
Cập nhật vào: Thứ năm - 18/12/2025 00:05
Cỡ chữ
Theo số liệu thống kê (nguồn: https://www.statista.com/statistics /940102/globaltea-consumption/), trong năm 2020, lượng chè tiêu thụ trên toàn thế giới đã đạt mức 6,3 triệu tấn, trị giá 200 tỷ USD, tăng 87,3% so với giai đoạn 2004-2006 về lượng (3,364 triệu tấn). Theo dự báo của FAO (2018), giai đoạn 2017- 2027, sản lượng chè xanh thế giới được dự báo tăng mạnh, đến năm 2027, đạt 3,6 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng 7,5%/năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng về sản lượng chè đen (4,4 triệu tấn, 2,2%/năm) (nguồn: Diễn đàn chè Thế giới, năm 2018). Nhìn vào xu hướng diễn biến của thị trường chè trong những năm gần đây (sản lượng và xuất khẩu) có thể nhận thấy, nhu cầu đối với sản phẩm chè xanh ngày càng tăng. Những lợi ích đối với sức khỏe con người mà sản phẩm chè xanh mang lại đã góp phần làm tăng đáng kể lượng người tiêu thụ chè xanh.
Việt Nam được xếp vào nhóm 10 nước sản xuất và xuất khẩu chè lớn nhất thế giới. Theo số liệu thống kê Hiệp hội chè Việt Nam, 11 tháng đầu năm 2021, sản lượng chè xuất khẩu chính ngạch của Việt Nam đạt 115 tấn (ước cả năm 2021 đạt 130 nghìn tấn, tăng), đạt giá trị kim ngạch 194 triệu USD. Theo Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và PTNT (2021), cơ cấu sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam năm 2020 là: 42% chè xanh, 42% chè đen, 2% chè ướng hoa và 14% còn lại là các sản phẩm chè khác; so với năm 2017, tỷ trọng xuất khẩu chè xanh tăng 3%, chè đen giảm 12%. Theo dự đoán của FAO (2014), đến năng 2023, tổng sản lượng chè xanh của Việt Nam sẽ đạt 304,359 nghìn tấn (tăng khoảng 11,6% so với năm 2013), trong đó lượng chè xanh cho xuất khẩu đạt 251,024 nghìn tấn (tăng khoảng 13,5%), duy trì vị trí xuất khẩu chè xanh đứng thứ 2 trên thế giới (chỉ đứng sau Trung Quốc).
Như vậy, cùng với xu thế chung của thế giới, cơ cấu sản phẩm chè của Việt Nam cũng đang dịch chuyển dần theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm chè xanh, giảm tỷ trọng sản phẩm chè đen. Mặt khác, với quy mô dân số trên 90 triệu dân, và thói quen uống chè xanh hàng ngày, nhu cầu sản xuất chè xanh của Việt Nam sẽ ngày càng tăng cao. Để đáp ứng được yêu cầu này, đòi hỏi phải có bộ giống và công nghệ phù hợp, nhằm nâng cao được năng suất, chất lượng và tăng được tính cạnh tranh, giá trị của sản phẩm chè. Tuy nhiên, các giống để đáp ứng chế biến chè xanh chất lượng cao hiện có tại Việt Nam chiếm tỷ lệ vẫn còn khiêm tốn, khoảng 23% (Báo cáo của Cục trồng trọt, 2015), chưa đáp ứng được so với yêu cầu. Muốn đáp ứng được yêu cầu của thị trường, bên cạnh việc đổi mới về công nghệ, đòi hòi ngành chè cần phải chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu giống, thay dần diện tích các giống chè cũ, kém chất lượng bằng các giống chè mới đáp ứng được mục tiêu chế biến chè xanh chất lượng cao và chế biến đa dạng sản phẩm chè, phục vụ đa dạng các phân khúc thị trường chè.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài PGS.TS Nguyễn Văn Toàn cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc thực hiện “Nghiên cứu chọn tạo giống chè xanh năng suất chất lượng cao cho một số vùng chè chính của Việt Nam” với mục tiêu chọn tạo được giống chè xanh mới có năng suất cao, chất lượng tốt cho các vùng chè chính của Việt Nam.
Từ việc nghiên cứu, đánh giá 60 dòng chè nổi trội trong tập đoàn giống công tác là các sản phẩm kế thừa được chọn tạo ra từ các giai đoạn trước tại NOMAFSI, đề tài đã chọn được 7 dòng chè ưu tú, sinh trưởng khỏe, năng suất cao (tuổi 4 đạt từ 4,96–5,7 tấn/ha), hàm lượng tanin thấp (26,53-27,92%), hàm lượng chất thơm cao (48,09-49,78 ml KMnO4 0,02N/100 gck), điểm thử nếm chè xanh cao (17,0-17,3 điểm). Đó là các dòng: G21, ĐBK23, 230, 13, 950, 978 và 158.
Đã thu thập được 209 mẫu giống chè Shan và Trung du từ các tỉnh Hà Giang, Lai châu, Sơn La, Thái Nguyên, Phú Thọ và Tuyên Quang về trồng tại vườn của NOMAFSI. Trong đó, có 106 mẫu chè Trung du và 103 mẫu chè Shan. Kết quả đánh giá, tuyển chọn đã xác định được 06 mẫu giống/cá thể ưu tú có khả năng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, tuổi 3 đã đạt trên 5,0 tấn/ha và chất lượng tốt (hàm lượng tanin từ 26,0 – 28,0 %, chỉ số hợp chất thơm đạt trên 48,0 ml KMnO4 0,02N/100 gck và 22 điểm thử nếm chất lượng chè xanh trên 18,0 điểm), gồm các mẫu giống: T.LC4, T.LC15, T.TC25, S.BB29, S.MC7 và S.MC21.
Dựa vào đặc điểm của giống, thời gian phân hóa nụ hoa, thời gian nở hoa trùng nhau, khoảng cách di truyền của các dòng/giống chè và định hướng chọn giống của đề tài, đã chọn được 17 dòng/giống chè để làm bố mẹ khi lai và ghép được 20 tổ hợp lai (cặp lai).
Từ hoạt động lai tạo, qua đánh giá về hình thái, sinh trưởng, năng suất, thành phần sinh hóa, chất lượng cảm quan chè xanh, đề tài đã xác định được 49 cá thể ưu tú/cây đầu dòng thỏa mãn đồng thời các chỉ tiêu về tanin: 24-28%, chỉ số hợp chất thơm: > 48 ml KMnO4 0,02N/100 gck.
Từ kết quả khảo nghiệm DUS, khảo nghiệm so sánh giống (khảo nghiệm cơ bản) 10 dòng chè triển vọng và khảo nghiệm sản xuất diện rộng dòng LCT1, shan Lũng Phìn đề tài đã đã xác định các dòng có tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định và chọn ra 8 dòng chè triển vọng nổi trội, đó là dòng: LCT1, shan Lũng Phìn, TC4, Dòng số 15, VN3, MC2, Vân Xương và Dòng 215. Trong đó, LCT1 (năng suất tuổi 19: 19,6 tấn/ha, chỉ số hợp chất thơm: 48,15 ml KMnO4 0,02N/100 gck, tanin 27,85%) và shan Lũng Phìn (năng suất tuổi 13: 15,6 tấn/ha, chỉ số hợp chất thơm 48,42 ml KMnO4 0,02N/100 gck, tanin 28,00%) đã được công nhận giống sản xuất thử năm 2019; 6 dòng chè còn lại tiếp tục được nghiên cứu kỹ hơn thông qua bố trí khảo nghiệm cơ bản mới.
Từ kết quả khảo nghiệm cơ bản 6 dòng chè triển vọng nổi trội, đã xác định được 4 dòng chè có năng suất, chất lượng chè xanh cao nhất đưa vào khảo nghiệm VCU. Đó là dòng TC4, Dòng số 15 (TC4 có năng suất tuổi 5 đạt 7,8 tấn/ha, chỉ số hợp chất thơm 48,06 ml KMnO4 0,02N/100 gck, hàm lượng tanin 27,98%, điểm cảm quan chè xanh 17,09 điểm; Dòng số 15 có năng suất tuổi 5 đạt 7,8 tấn/ha, chỉ số hợp chất thơm 48,22 ml KMnO4 0,02N/100 gck, hàm lượng tanin 27,97%, điểm cảm quan chè xanh 17,08 điểm), thứ đến là dòng VN3 và MC2.
Kết quả khảo nghiệm diện rộng, đã xây dựng được 03 mô hình/09ha trồng 4 dòng chè LCT1, shan Lũng phìn, TC4 và Dòng số 15 ở các vùng sinh thái cho thấy, các dòng đều có khả năng sinh trưởng khỏe, năng suất cao (dòng LCT1: tuổi 8 đạt 10,08 tấn/ha, tuổi 5 đạt 6,67 tấn/ha; dòng shan Lũng phìn: tuổi 8 đạt 9,98 tấn/ha; Dòng số 15: tuổi 5 đạt 6,21 tấn/ha; dòng TC4 tuổi 17 đạt 15,72 tấn/ha), chất lượng chè xanh tốt (các dòng đều có điểm thử nếm chè xanh > 17 điểm); hiệu quả kinh tế tăng so với đối chứng phổ biến tại địa phương đối với LCT1 là 13,59-56,87%, tỷ suất lợi nhuận cận biên đạt 1,73-2,17, đối với shan Lũng Phìn là 26,57-51,28% và 1,57-2,09, đối với TC4 là 11,92- 12,32% và 1,72-2,13, đối với Dòng số 15 là 12,59-14,40% và 1,67-1,81
Đề tài đã nhân giống sản xuất thử được 1,1 triệu bầu chè, trồng diện tích 45 ha với 4 dòng chè LCT1, shan Lũng Phìn, TC4 và Dòng số 15 cho các tỉnh Thái Nguyên, 23 Sơn La, Phú Thọ. Cây chè sau trồng 1 và 2 năm tuổi đều có tỷ lệ sống cao (xấp xỉ 95%), cây sinh trưởng khỏe, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21043/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








