Nghiên cứu chọn tạo giống và gói kỹ thuật thâm canh cây có múi cho một số vùng trồng chủ lực ở phía Bắc
Cập nhật vào: Thứ năm - 14/08/2025 13:05
Cỡ chữ
Cam (cam chanh - Citrus sinensis Osbeck; cam sành - Citrus nobilis), bưởi (Citrus grandish Osbeck) là một trong những loại cây ăn quả chủ lực, có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao ở nước ta nói chung, ở miền Bắc nói riêng. Năm 2020, trên phạm vi cả nước, tổng diện tích cam, bưởi đạt xấp xỉ 205 nghìn ha và tổng sản lượng đạt gần 1.975 nghìn tấn. Ở các tỉnh phía Bắc, diện tích cam và bưởi hiện có là 107,504 nghìn ha, chiếm xấp xỉ 24,38% tổng diện tích các chủng loại cây ăn quả của vùng và thuộc nhóm cây ăn quả đóng góp giá trị về kinh tế cao cho người trồng.
Do cam và bưởi là những loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, được các cơ quan quản lý và người dân quan tâm phát triển nên đã có những nghiên cứu về chọn tạo giống, về xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh được triển khai. Từ những kết quả nghiên cứu đạt được đã có một số giống và quy trình kỹ thuật được áp dụng thành công trong sản xuất. Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của khoa học, sự biến đổi của điều kiện môi trường, sự phát sinh của sâu bệnh hại (đặc biệt là sâu bệnh hại vùng rễ),.... đã dẫn đến việc bộ giống và quy trình thâm canh cũ không còn thích hợp hoặc có một số tồn tại cần cải tiến. Vì vậy, những nghiên mới cần được thực hiện để bổ sung và hoàn thiện bộ giống và quy trình hiện có.
Ở những giai đoạn nghiên cứu trước đây (2010-2014), từ kết quả của một số đề tài nghiên cứu chọn, tạo giống cây ăn quả có múi, Viện Nghiên cứu Rau quả đã tạo được một số vật liệu quý, có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái miền Bắc. Tuy nhiên, do thời gian và không gian thực hiện các đề tài ngắn và hẹp nên một số nguồn vật liệu giống có triển vọng tạo được từ tuyển chọn, từ lai hữu tính và từ xử lý đột biến chưa được khảo nghiệm và đánh giá khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng quả. Bên cạnh đó, thực tiễn sản xuất cam, bưởi ở miền Bắc cũng phát sinh những tồn tại cần giải quyết đặc biệt là vấn đề sâu bệnh hại vùng rễ ở huyện Cao Phong - Hòa Bình.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài Tiến sĩ Vũ Việt Hưng cùng nhóm nghiên cứu tại Viện nghiên cứu rau quả thực hiện “Nghiên cứu chọn tạo giống và gói kỹ thuật thâm canh cây có múi cho một số vùng trồng chủ lực ở phía Bắc” với mục tiêu tuyển chọn các biến dị từ nguồn quỹ gen trong tự nhiên và các nguồn vật liệu tạo được ở giai đoạn trước; Chọn tạo giống bằng lai hữu tính và bằng phương pháp xử lý đột biến; Nghiên cứu hoàn thiện gói kỹ thuật thâm canh cam, bưởi cho một số vùng trồng chủ lực ở phía Bắc.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
1. Đã hoàn thiện việc đánh giá khả năng thích ứng và tính ổn định về năng suất, chất lượng của một số dòng/giống cam chanh, cam sành và bưởi tại một số vùng sinh thái phía Bắc.
- Các dòng/giống cam chanh KM1, NĐ1, NĐ2 có khả năng sinh trưởng khá, ổn định về năng suất và số hạt, cụ thể: Tỷ lệ đậu quả khá cao, từ 0,84 - 0,95%; Khối lượng quả đạt từ 201,13 - 238,53 g/quả; Năng suất đạt từ 14,81-18,86 kg/cây 4 tuổi; Ít hạt, dao động từ 6 - 12,47 hạt/quả, trong khi đối chứng là 24,53 - 26,67 hạt/quả. Trong các dòng/giống khảo nghiệm, cam KM có khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng tốt nhất, số hạt ít nhất (
- Các dòng cam sành ít hạt HG1, HG2, HG3 có khả năng sinh trưởng khá và không có sự khác biệt nhiều so với giống đối chứng (cam sành Hà Giang), cụ thể: Tỷ lệ đậu quả đạt từ 0,95 - 1%; Năng suất đạt từ 17,29 đến 18,68 kg/cây 4 tuổi; Ít hạt và ổn định, số hạt dao động từ 7 - 12,8 hạt/quả, trong khi đối chứng là 24,4 - 26,27 hạt/quả. Từ kết quả khảo nghiệm tại các điểm và kế thừa kết quả nghiên cứu trước, đã triển khai khảo nghiệm sản xuất, hoàn thiện Hồ sơ công nhận giống và được Bộ NN&PTNT công nhận cam HG1 là giống cho sản xuất thử theo QĐ số 435, ngày 30/12/2019.
- Các dòng/giống bưởi khảo nghiệm có khả năng sinh trưởng khá, trong đó, bưởi Diễn sớm sinh trưởng khỏe nhất và kém nhất là bưởi Philippin. Ở năm đầu cho quả, tỷ lệ đậu quả đạt từ 0,57% - 1,04% (cao nhất là bưởi Diễn sớm), năng suất đạt từ 6,52 - 21,92 kg/cây. Dù là năm đầu bói quả xong chất lượng quả tốt, không có vị the đắng. Ngoại trừ giống Diễn sớm có vị ngọt, các giống còn lại có vị chua ngọt cân đối, độ Brix đạt từ 10,47 - 11,54%. Thời gian thu hoạch của các giống từ tháng 9 - 10, sớm hơn bưởi Diễn từ 1 - 3 tháng.
2. Từ kết quả nghiên cứu chọn tạo nguồn vật liệu khởi đầu phục vụ công tác chọn tạo giống cam và bưởi mới, thu được các kết quả chính sau:
- Tuyển chọn được 02 mẫu bưởi, 01 mẫu cam chanh và 01 mẫu cam sành ưu tú. Thể hiện với bưởi là năng suất cao, vị chua ngọt cân đối, tép màu hồng đậm, giòn và ráo. Với cam là có số hạt/quả nhỏ hơn 10 và chất lượng tương đương giống đang trồng phổ biến. Những vật liệu này đã và đang được tiếp tục theo dõi để phục vụ công tác chọn tạo giống trong tương lai. Bên cạnh đó, từ việc kế thừa kết quả nghiên cứu trước, đã triển khai khảo nghiệm sản xuất, hoàn thiện Hồ sơ xin công nhận và được Bộ NN&PTNT công nhận giống bưởi Đường lá nhăn là giống cho sản xuất thử theo QĐ số 110 ngày 19/4/2019. Giống hiện đang được phát triển tốt ngoài sản xuất.
- Từ kết quả lai hữu tính thực hiện trong giai đoạn 2017 - 2018, đã tạo được trên 13 nghìn hạt lai và đang đánh giá 1.010 con lai trên vườn sản xuất. Từ kết quả đánh giá thể lai tạo được giai đoạn 2010 - 2014, đã được 6 dòng lai ưu tú là: C79H1 và C42H22 thuộc cặp lai PT x BĐ; C96H9 thuộc cặp lai PML x BĐ; C1H4.2, C1H6.2 và C1H8.2 thuộc cặp lai DX x D. Các dòng lai có những đặc điểm quý như: Khối lượng quả đạt từ 800g đến 1.280g/quả, đồng đều; Màu sắc tép có đặc trưng riêng (đỏ, hồng,...); Dễ hoặc rất dễ bóc tách vách múi và tép; Tép ráo, giòn; Vị chua ngọt cân đối; không hoặc ít vị the đắng ở năm đầu cho quả; Thời gian thu hoạch từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 11. Các dòng lai ưu tú đã và đang được khảo nghiệm để công nhận giống theo quy định của Luật trồng trọt.
- Từ kết quả xử lý đột biến bằng nguồn chiếu xạ Co60 với 2 liều lượng là 5 krad, 6 krad trên vật liệu cam Xã Đoài và cam Sành, thực hiện trong giai đoạn 2017 - 2018, đã tạo được 1.620 cá thể đội biến. Kết quả đánh giá đã lựa chọn được 12 cá thể cam sành và 13 cá thể cam Xã Đoài có triển vọng, trong đó 8 cá thể cam Xã Đoài ít hạt (6,2 - 8,3 hạt/quả), 1 cá thể cam Sành ít hạt (9 hạt) và 1 cá thể cam sành không hạt. Các dòng đột biến ưu tú đã và đang được khảo nghiệm để công nhận giống theo quy định của Luật trồng trọt.
3. Từ việc nghiên cứu hoàn thiện gói kỹ thuật thâm canh bưởi Phúc Trạch ở Hà Tĩnh và cam Xã Đoài ở Nghệ An thu được các kết quả chính sau:
- Đã xác định được công thức phối trộn và số lần thụ phấn bằng máy có hiệu quả kinh tế cao nhất (trộn theo tỷ lệ 4 bột bột đá CaCO3 : 1 phấn, phun 4 lần). Kết hợp kết quả nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật thụ phấn bổ sung với tổng quan tài liệu, đánh giá các quy trình kỹ thuật hiện có đã đề xuất được gói kỹ thuật chăm sóc bưởi Phúc Trạch (gói 1), chăm sóc theo gói kỹ thuật này có tác dụng rõ rệt trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế so với đối chứng. Cụ thể: năng suất đạt từ 42 - 44 tấn/ha, hiệu quả sản xuất đạt xấp xỉ 1 tỷ đồng/ha, tăng so với đối chứng từ 11 - 20%. Từ kết quả tổng quan, kết quả nghiên cứu, đã tổng hợp được quy trình (gói) thâm canh tổng hợp trên cây bưởi Phúc Trạch. Quy trình được Bộ NN&PTNT công nhận là TBKT, được sở NN&PTNT Hà Tĩnh chấp nhận sử dụng trong sản xuất.
- Đã chứng minh được công thức công thức cắt tỉa theo kiểu khai tâm có định hướng khống chế chiều cao có tác dụng rõ rệt trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng cam Xã Đoài tại Nghệ An. Kết hợp kết quả nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật cắt tỉa với tổng quan tài liệu, đánh giá các quy trình kỹ thuật hiện có đã đề xuất được gói kỹ thuật chăm sóc cam Xã Đoài(gói 1), chăm sóc theo gói kỹ thuật này có tác dụng rõ rệt trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế so với áp dụng gói kỹ thuật đối chứng. Cụ thể: năng suất đạt từ 25 - 26 tấn/ha, hiệu quả sản xuất tăng so với đối chứng từ 23-24%. Từ kết quả tổng quan, kết quả nghiên cứu, đã tổng hợp được quy trình (gói) thâm canh tổng hợp trên cây cam Xã Đoài. Quy trình được sở NN&PTNT Nghệ An chấp nhận sử dụng trong sản xuất.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21025/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








