Nghiên cứu chọn tạo tôm chân trắng (Penaeus vannamei) thích ứng với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn
Cập nhật vào: Thứ tư - 23/09/2026 13:07
Cỡ chữ
Tôm thẻ chân rắng và tôm sú là hai loài được nuôi phổ biến ở khu vực nhiệt đới và bán nhiệt đới. Loại tôm này có diện tích và sản lượng nuôi lớn, kéo theo nhu cầu ngày càng cao về con giống chất lượng. Tuy nhiên, nguồn tôm thẻ chân trắng bố mẹ trong nước còn hạn chế, phần lớn phải nhập khẩu, làm tăng chi phí sản xuất, gây phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và khó kiểm soát chất lượng con giống. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng đang tác động trực tiếp đến điều kiện nuôi, đặt ra yêu cầu phải chủ động tạo ra các dòng tôm có khả năng thích ứng tốt với điều kiện môi trường bất lợi.

Các nghiên cứu chọn giống trước đó tại Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực, đặc biệt đã hình thành quần thể tôm thẻ chân trắng chọn giống đến thế hệ G4 và cho thấy tiềm năng cải thiện rõ rệt các tính trạng tăng trưởng. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục kế thừa nguồn vật liệu chọn giống, đồng thời mở rộng mục tiêu theo hướng tạo ra giống tôm vừa có năng suất cao, vừa thích ứng với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Xuất phát từ yêu cầu đó, từ năm 2018 đến năm 2021, TS. Nguyễn Đình Quang Duy và nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu chọn tạo tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) thích ứng với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn”, kế thừa vật liệu chọn giống thế hệ G4 để tiếp tục chọn tạo các thế hệ G5, G6 và G7, hướng tới chủ động nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao, phù hợp với điều kiện nuôi trong nước.
Nghiên cứu đã đánh giá đặc điểm di truyền của các tính trạng quan trọng ở tôm thẻ chân trắng, cho thấy hệ số di truyền đối với tỷ lệ sống đạt 0,08-0,18, chiều dài 0,22-0,39 và khối lượng 0,26-0,39. Giữa tính trạng khối lượng và chiều dài có tương quan chặt chẽ trong các điều kiện nuôi khác nhau, đạt 0,73-0,89, cho thấy việc chọn giống theo hướng tăng khối lượng đồng thời có thể cải thiện chiều dài. Hiệu quả chọn giống đối với khối lượng đạt 6,3-6,5%, chiều dài 4,2-4,6%, trong khi tỷ lệ sống đạt 3,5-4,3%. Phân tích hệ gen cũng cho thấy hệ số di truyền của các tính trạng ở mức trung bình đến cao, khả năng dự đoán giá trị chọn giống đối với khối lượng đạt 0,719-0,782, tạo cơ sở cho việc ứng dụng thông tin hệ gen trong chọn giống.
Kết quả đánh giá tôm bố mẹ hậu bị tại 10 cơ sở cho thấy chất lượng sinh sản tốt và tương đối ổn định, với tỷ lệ thành thục của tôm đực 87-96%, tôm cái 82-91%; tỷ lệ ghép cặp đẻ thành công 78,4-87,3%, tỷ lệ thụ tinh 80,34-85,47%, tỷ lệ nở 71,4-77,8% và năng suất đạt 172.000-188.000 nauplius/tôm cái/lần sinh sản. Khi đưa tôm chọn giống vào nuôi thương phẩm, ở mật độ 65-70 con/m², tỷ lệ sống đạt 83,5-85,9%, năng suất 11,47-11,97 tấn/ha/vụ, FCR 1,10-1,22; ở mật độ cao 160-200 con/m², năng suất đạt 27,1-34,9 tấn/ha/vụ và tỷ lệ sống 81,8-83,4%. Kết quả cho thấy quần thể tôm chọn giống có tiềm năng rõ rệt về tăng trưởng, khả năng sinh sản và năng suất nuôi, góp phần tạo cơ sở cho việc phát triển đàn tôm bố mẹ chất lượng cao, chủ động nguồn giống trong nước và nâng cao hiệu quả sản xuất tôm thẻ chân trắng.
Kết quả nghiên cứu giúp chủ động nguồn tôm bố mẹ trong nước, giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, đồng thời nâng cao chất lượng con giống và năng suất, hiệu quả nuôi tôm. Đây cũng là cơ sở quan trọng để phát triển các chương trình chọn giống ứng phó với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, góp phần nâng cao tính bền vững và sức cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 22502/2021) tại Cục Thông tin, Thống kê.
N.P.D (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











