Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường nước trên các sông trục chính và hệ thống công trình thủy lợi các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng Bắc Bộ phục vụ phát triển nông nghiệp an toàn và cấp nước sinh hoạt
Cập nhật vào: Chủ nhật - 06/10/2024 13:08
Cỡ chữ
Vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có diện tích tự nhiên 6131 km2 (tương đương với 7% diện tích Lưu vực sông Hồng thuộc lãnh thổ Việt Nam). Đây là vùng tập trung đông dân với mật độ dân số cao nhất nước ta, khoảng trên 3.000 người/km2 (trung bình cả nước là 1.100 người/km2), trong đó có tới 66% lao động sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản với diện tích 306.100 ha chủ yếu là canh tác lúa nước. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế kèm theo đó là nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cao, dẫn tới lượng nước thải xả vào nguồn tiếp nhận (sông, kênh) cũng ngày càng tăng đã làm gia tăng ô nhiễm môi trường nước mặt trên các sông chính cấp nước cho các hệ thống công trình thủy lợi của vùng nghiên cứu

Nguồn nước mặt cấp cho sản xuất và dân sinh chủ yếu từ dòng chính sông Hồng và sông Thái Bình phân vào các nhánh sông, các cống lấy nước và các trạm bơm. Mặc dù hệ thống công trình thủy lợi đóng vai trò chính cấp nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và cung cấp nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, phòng chống lũ lụt, úng ngập, hạn hán... Tuy nhiên, công tác thủy lợi đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức.
Bên cạnh đó, việc cấp nước phục vụ cho sinh hoạt và phát triển nông nghiệp an toàn chưa được quan tâm thỏa đáng nhằm cải thiệt chất lượng nguồn nước cấp. Do hệ thống công trình thủy lợi hiện chỉ được thiết kể để phục vụ cho nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ nền nông nghiệp đa dạng và hiện đại. Diện tích cây trồng được áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước còn hạn chế; chất lượng nước một số hệ thốngcông trình chưa bảo đảm để cung cấp sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn; hạ tầng thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản chưa đáp ứng được nhu cầu. Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu của GS.TS. Nguyễn Tùng Phong tại Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường nước trên các sông trục chính và hệ thống công trình thủy lợi các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng Bắc Bộ phục vụ phát triển nông nghiệp an toàn và cấp nước sinh hoạt” từ năm 2018 đến năm 2021.
Đề tài nhằm thực hiện mục tiêu đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng nước, chất lượng nước và dự báo khả năng đáp ứng nguồn nước phục vụ phát triển nông nghiệp an toàn và cấp nước sinh hoạt các tỉnh ven biển Đồng bằng Bắc Bộ thích ứng với biến đổi khí hậu; và đề xuất các giải pháp nhằm quản lý, bảo vệ nguồn nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nước trên các sông trục chính và trong công trình thủy lợi các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng Bắc Bộ đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp an toàn và cấp nước sinh hoạt
Đề tài đã thu được một số kết quả nghiên cứu chính như sau:
(1) Đánh giá thực trạng và dự báo khai thác, sử dụng nước và chất lượng nước trên các sông trục chính và trong các hệ thống công trình thủy lợi: Sự suy giảm tài nguyên nước mặt: nguồn nước mặt trên hệ thống sông trục chính và các sông nhánh đã liên tục suy giảm và xuất hiện những trị số thấp nhất lịch sử dẫn tới sông bị xâm nhập mặn ngày càng sâu và chất lượng nước càng xấu đi. Tình trạng ô nhiễm nước mặt đang diễn ra phổ biến và phức tạp, không theo quy luật. Qua kiểm kê, đánh giá các nguồn thải và hiện trạng xử lý nước thải vùng ven biển ĐBSH thấy rằng, tổng lưu lượng nước thảixả vào hệ thống sông/kênh vùng ven biển ĐBSH vào khoảng 968.047 m3/ngày đêm. Trong đó, Hải Phòng có lượng nước thải phát sinh lớn nhất, tiếp đến là Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình. Các nguồn nước thải vào hệ thống sông kênh của vùng nghiên cứu bao gồm: nguồn nước thải sinh hoạt (khoảng 63%), Công nghiệp (23%), Làng nghề (6,5%), Chăn nuôi (5,4%), Y tế (1,8%) và Nuôi trồng thủy sản (0,2%).
(2) Phân vùng chất lượng nước mặt: Kết quả phân vùng chất lượng nước mặt cho thấy chất lượng môi trường nước mặt vùng nghiên cứu được thể hiện trên bản đồ mộtcách rất trực quan. Mỗi đoạn sông với các màu sắc khác nhau ứng với từng mức chất lượng nước (theo thang điểm của WQI). Với kết quả đánh giá chất lượng nước rõ ràng và trực quan sẽ là một cở sở để giúp các địa phương trong vùng sẽ xác định rõ: vùng (đoạn sông) đạt yêu cầu về chất lượng nước an toàn cho cấp nước sinh hoạt (lấy nước cho nhà máy nước); vùng đạt yêu cầu về chất lượng nước có khả năng sản xuất nông nghiệp an toàn, có hiệu quả kinh tế; vùng có khả năng cấp nước thủy lợi an toàn, có chất lượng tốt; vùng không thể sử dụng cho các mục đích trên, cần ưu tiên xử lý, kiểm soát ô nhiễm. Qua đó cũng xác định được vùng bị ảnh hưởng do ô nhiễm nước mặt và xâm nhập mặn căn cứ theo kết quả phânvùng cho từng địa phương.
(3) Đề xuất các giải pháp tổng hợp nhằm cải thiện nguồn nước với 3 nhóm giải pháp chính:
- Nghiên cứu giải pháp cơ chế, chính sách nhằm giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt vùng nghiên cứu: Giải pháp về cơ cấu tổ chức quản lý môi trường; Các giải pháp về mặt chính sách, thể chế, luật pháp; Các giải pháp về nguồn lực con người, tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường nước mặt; các giải pháp về mặt tài chính, đầu tư cho bảo vệ môi trường nước mặt;
- Đề xuất các giải pháp khoa học và công nghệ xử lý nguồn nước thải sinh hoạt, làng nghề, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và y tế. Đây cũng là những nguồn thải phổ biến và điển hình của vùng nghiên cứu. Mỗi giải pháp công nghệ được đề xuất bao gồm ưu và nhược điểm để các địa phương áp dụng cho phù hợp;
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp kiểm soát nguồn thải nhằm giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt của vùng nghiên cứu đối với từng nguồn riêng biệt.
(4) Xây dựng mô hình thí điểm bảo vệ nguồn nước và cải thiện chất lượng nước tại hệ thống công trình thủy lợi An Kim Hải phục vụ phát triển nông nghiệp an toàn và cấp nước sinh hoạt. Để chứng minh hiệu quả trong việc giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt trong vùng nghiên cứu theo các giải pháp đã được đề xuất, đề tài đã thí điểm mô hình quản lý và bảo vệ nguồn nước mặt tại Hệ thống công trình thủy lợi (CTTL) An Kim Hải. Xây dựng quy trình vận hành hệ thống nhằm giảm thiểu ô nhiễm nước mặt, ngăn xâm nhập mặn; Thành lập Tổ chức quản lý môi trường nước ở cấp xã; Xây dựng công trình xử lý nước thải cho khu dân cư thôn Nam, xã Tân Tiến với tổng thể các giải pháp kỹ thuật, công nghệ xử lý nước phù hợp. Việc triển khai thí điểm mô hình xử lý nước thải cho khu dân cư thôn Nam, xã Tân Tiến, với tổng thể các giải pháp kỹ thuật, công nghệ xử lý nước phù hợp, kết hợp với việc xây dựng mô hình tổ chức, quản lý có sự tham gia của cộng đồng địa phương, các đơn vị tư nhân… sẽ góp phần đảm bảo tính bền vững và phát huy hiệu quả của mô hình.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 20239/2021) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
N.P.D (NASATI)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








