Nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nội ngành cơ khí chế tạo theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
Cập nhật vào: Thứ năm - 14/08/2025 13:04
Cỡ chữ
Ngành cơ khí đóng vai trò trọng yếu trong tổng thể nền công nghiệp Việt Nam. Giai đoạn vừa qua, sự phát triển của ngành đã góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng chung của công nghiệp. Tỷ trọng GDP của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo liên tục tăng, từ 13,35% năm 2011 lên 16,7% vào năm 2020. Nhờ đó, Việt Nam đã dần thu hẹp khoảng cách về năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) toàn cầu, từ vị trí 58 năm 2009 lên 41 năm 2017. Các kết quả nổi bật có thể kể đến như sự đột phá trong chế tạo thiết bị thủy công (cho các nhà máy thủy điện), chế tạo giàn khoan dầu khí (đáp ứng khoan thăm dò đến độ sâu 120m và giàn khoan tự nâng 90m nước), thiết bị điện, thiết bị cho nhà máy xi măng, và đóng đa dạng các loại tàu (chở dầu 105 nghìn DWT, chở khí hóa lỏng 5.000 tấn, tàu hàng rời).
Đặc biệt, cơ khí trong nước đã sản xuất, lắp ráp hầu hết các chủng loại ô tô con, xe tải, xe khách; xe máy đạt tỷ lệ nội địa hóa 85-95%, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu. Một số cơ quan nghiên cứu, thiết kế và doanh nghiệp cơ khí đã chủ động đổi mới, nâng cao năng lực tư vấn, thiết kế, chế tạo thiết bị và công nghệ, tham gia thực hiện các gói thầu quan trọng trong nhiều dự án trọng điểm quốc gia.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành cơ khí Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Giá trị gia tăng (VA) của ngành nhìn chung vẫn thấp, với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp (GO) luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng VA, khiến khoảng cách giữa GO và VA ngày càng nới rộng. Các chuyên gia kinh tế nhận định ngành cơ khí chủ yếu phát triển theo mục tiêu ngắn hạn, thiếu tính bền vững; trình độ công nghệ còn lạc hậu, chậm đổi mới; chất lượng sản phẩm và năng suất lao động còn thấp. Việc thu hút và tận dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hạn chế, đặc biệt là trong việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Trong khi đó, các doanh nghiệp cơ khí trong nước chủ yếu có quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh còn yếu. Sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn ở mức độ hạn chế, chủ yếu dừng lại ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp như gia công và lắp ráp. Đây là những khâu được đánh giá là tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị.

Đánh giá về công tác xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn
Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cấp bách cho ngành cơ khí Việt Nam phải giải quyết những khó khăn, thách thức hiện tại để có thể dịch chuyển lên các phân khúc giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chính vì lý do đó, TS. Vũ Quang Hùng và các cộng sự tại Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nội ngành cơ khí chế tạo theo hướng nâng cao giá trị gia tăng”.
Sau một thời gian triển khai thực hiện, đề tài đưa ra kết luận và kiến nghị sau:
Ngành cơ khí Việt Nam đã và đang giữ vai trò trung tâm trong tổng thể nền công nghiệp. Trong giai đoạn vừa qua, sự phát triển của ngành đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của công nghiệp chế biến, chế tạo, thể hiện qua việc tỷ trọng GDP của ngành này tăng từ bình quân 14,6% giai đoạn 2011-2015 lên 18,3% vào năm 2018. Điều này góp phần quan trọng giúp Việt Nam thu hẹp đáng kể khoảng cách về năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) toàn cầu, từ vị trí 58 năm 2009 lên 41 vào năm 2017.
Tuy nhiên, mặc dù đạt được những kết quả tích cực, sự phát triển của ngành cơ khí vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, đáng chú ý nhất là giá trị gia tăng (VA) của ngành vẫn còn thấp. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp (GO) luôn cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng của VA, khiến khoảng cách giữa GO và VA ngày càng nới rộng. Điều này cho thấy sự tăng trưởng chủ yếu dựa vào sản lượng mà chưa đi sâu vào tạo ra giá trị cao.
Để giải quyết vấn đề này, đề tài đã đi sâu vào xác định cơ sở khoa học về giá trị gia tăng, cơ cấu nội ngành và chuyển dịch cơ cấu nội ngành. Đề tài đã phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành cơ khí bằng các phương pháp nghiên cứu phù hợp, đồng thời xây dựng và đánh giá các chỉ tiêu đo lường liên quan đến giá trị gia tăng và cơ cấu nội ngành. Đề tài cũng đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao giá trị gia tăng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nội ngành, kết hợp với việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đề xuất một số chính sách nhằm mục tiêu này.
Trên cơ sở phân tích ngành chế biến, chế tạo, đề tài đã chỉ ra 03 ngành cấp 2 có tiềm năng và dư địa lớn để phát triển nâng cao giá trị gia tăng: ngành thiết bị điện, điện tử; ngành dệt may - da giày; và ngành chế biến nông lâm sản và thực phẩm. Do đó, đề tài kiến nghị Bộ Công Thương tiếp tục nghiên cứu để hiện thực hóa chủ trương xây dựng chính sách phát triển công nghiệp.
Đề tài này mang ý nghĩa quan trọng, nhằm cụ thể hóa chủ trương xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia. Việc thực hiện đề tài nhằm hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đồng thời, đề tài cũng là sự cụ thể hóa Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Đây là những văn bản chiến lược quan trọng, định hình con đường phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí chế tạo Việt Nam trong dài hạn.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21007/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











