Nghiên cứu đề xuất công nghệ phù hợp xử lý chất thải chăn nuôi lợn quy mô trang trại vừa và nhỏ thành phân bón hữu cơ
Cập nhật vào: Chủ nhật - 13/07/2025 13:04
Cỡ chữ
Tại Việt Nam, kết quả tổng kết của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2021, trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, lĩnh vực chăn nuôi đóng vai trò quan trọng chỉ sau lĩnh vực trồng trọt về giá trị sản xuất, chiếm khoảng 35% tổng giá trị ngành nông nghiệp với tổng đàn là: 362 triệu con gia cầm, 29 triệu con lợn và 8,8 triệu con gia súc. Định hướng sẽ phát triển đến năm 2030 tỷ trọng ngành chăn nuôi đạt đến hơn 40% tổng giá trị ngành nông nghiệp. Tổng sản lượng thịt các loại năm 2021 đạt khoảng 6,2 triệu tấn, trong đó thịt lợn đạt khoảng 3,82 triệu tấn (tăng 6,1%); thịt gia cầm đạt khoảng 1,7 triệu tấn (tăng 5,8%); thịt gia súc ăn cỏ đạt khoảng 0,68 triệu tấn (tăng 6%). Chăn nuôi bên cạnh tạo ra các giá trị hàng hoá, đóng góp vào thu nhập của các hộ chăn nuôi tại nông thôn còn giúp giải quyết một phần lao động tại chỗ của nhiều địa phương (chăn nuôi lợn khoảng 4 triệu hộ và gia cầm gần 8 triệu hộ và 23.500 trang trại chăn nuôi tập trung).
Năm 2021, quy mô trang trại chăn nuôi lợn thịt vừa và nhỏ (từ 10- 300 đơn vị vật nuôi tương đương từ 600 - 1500 con lợn thịt) 1 chiếm xấp xỉ 52% (Hình 1). Năm 2018, ngành chăn nuôi Việt Nam có quy mô hơn 409 triệu gia cầm, 27,5 triệu lợn, 5,9 triệu bò và 2,5 triệu con trâu, hàng năm thải ra khoảng 64 triệu tấn phân và 77 tỷ lít nước tiểu (Nguyễn Thế Hinh, 2019), trong đó chăn nuôi lợn chiếm xấp xỉ 76% lượng chất thải toàn ngành. Nguồn chất thải này đã từng bước được thu gom, sử dụng, tuy nhiên chỉ khoảng 20% được sử dụng hiệu quả (làm khí sinh học, ủ phân, nuôi trùn, cho cá ăn,…), còn lại 80% lượng chất thải chăn nuôi đã bị lãng phí và phần lớn chưa được thu gom, xử lý đúng quy định tạo thách thức về ô nhiễm môi trường trong xây dựng nông thôn mới của lĩnh vực chăn nuôi.
Với số lượng quy mô chăn nuôi ngày càng lớn, lượng chất thải ngày càng tăng, thì việc ứng dụng các phương pháp xử lý như biogas, ủ compost hay vi sinh chưa đáp ứng đủ và xử lý được triệt để chất thải chăn nuôi lợn và ô nhiễm môi trường nông thôn do chăn nuôi, chưa tối đa hoá được hiệu quả kinh tế của lĩnh vực chăn nuôi.
Một trong những giải pháp được áp dụng nhiều trong xử lý vấn đề chất thải chăn nuôi là sử dụng chất thải chăn nuôi làm phân bón (thông qua ủ compost) và công nghệ khí sinh học. Tuy các giải pháp này, đặc biệt là các công trình KSH, đã đóng góp rất nhiều vào giảm thiểu mô nhiễm môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi lợn vốn là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhưng thực tế cho thấy để xử lý triệt để nước thải, chất thải chăn nuôi lợn là một vấn đề rất khó và là thách thức lớn của ngành chăn nuôi. Nước thải sau khi xử lý vẫn còn nồng độ ô nhiễm hữu cơ cao hơn QCVN nhiều lần mà nguyên nhân chính là lượng nước sử dụng trong chăn nuôi lớn hơn công suất thiết kế của công trình KSH dẫn đến thời gian lưu nước thải lẫn chất thải chăn nuôi trong công trình KSH không đảm bảo.
Thời gian vừa qua, được sự hỗ trợ của nhà nước, của ngành, tại nhiều địa phương các hộ gia đình và các chủ trang trại đã lắp đặt, xây dựng hầm biogas, ủ compost, áp dụng công nghệ xử lý chất thải khác nhau để thu gom, sử dụng, góp phần giảm thiểu phần lớn chất thải, rác thải chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, việc sử dụng bể Biogas, ủ phân compost, dùng hồ lắng đều chưa xử lý được chất thải chăn nuôi một cách triệt để về mùi (ô nhiễm không khí), gây phì dưỡng cho nước, ô nhiễm đất khi chất thải rò rỉ ra môi trường. Các chi phí để xử lý môi trường chăn nuôi đã làm gia tăng chi phí sản xuất của người chăn nuôi, dẫn đến việc ứng dụng các công nghệ xử lý môi trường trong chăn nuôi trở nên không bền vững. Do vậy, quá trình nghiên cứu tại các tỉnh Hải Dương, Thanh Hoá, Bắc Giang (đại diện cho 03 vùng kinh tế) cần xây dựng một quy trình công nghệ, tích hợp giữa quản lý, thu gom, tách chất thải tại nguồn và sản xuất phân bón hữu cơ từ chất thải chăn nuôi phục vụ cho trồng trọt theo hướng hữu cơ tạo gia một chuỗi giá trị để các hộ chăn nuôi tại khu vực nghiên cứu có thể áp dụng, nhân rộng và phổ biến.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài ThS. Phạm Chí Trung cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam thực hiện “Nghiên cứu đề xuất công nghệ phù hợp xử lý chất thải chăn nuôi lợn quy mô trang trại vừa và nhỏ thành phân bón hữu cơ” với mục tiêu lựa chọn được công nghệ thu gom, xử lý chất thải rắn và nước thải từ các trang trại chăn nuôi lợn quy mô vừa và nhỏ thành phân bón hữu cơ đạt tiêu chuẩn QCVN01- 189:2019/BNNPTNT, tạo giá trị gia tăng cho người sản xuất và bảo vệ môi trường chăn nuôi.
Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
- Đề tài đã xây dựng phiếu điều tra, đã tiến hành khảo sát, đánh giá, tham vấn các bên liên quan và hộ chăn nuôi tại các huyện Cẩm Giàng, Kim Thành tỉnh Hải Dương, huyện Nga Sơn, Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, huyện Việt Yên và Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang. Kết quả, khảo sát 360 hộ chăn nuôi lợn, tham vấn khoảng 60 lượt các cán bộ phụ trách chăn nuôi, môi trường, thú y của các phòng NN và PTNT, Trung tâm DVNN, các cán bộ thú y xã tại 12 xã thuộc 06 huyện của các tỉnh để đánh giá hiện trạng thu gom, quản lý, xử lý chất thải rắn, nước thải và môi trường trong chăn nuôi lợn tại các trang trại chăn nuôi lợn quy mô vừa và nhỏ khu vực nghiên cứu.
- Kết quả điều tra chúng tôi rút ra một số kết luận chính như sau: trình độ của người lao động là các chủ hộ chăn nuôi trên địa bàn khảo sát còn ở mức độ thấp; trong cơ cấu thu nhập của các hộ được khảo sát thì hầu hết phản ánh thu nhập từ chăn nuôi là nguồn thu nhập chính của hộ; việc quản lý chất thải trong chăn nuôi lợn thì hầu hết nguồn phân lợn được sử dụng trực tiếp bón cho cây trồng hoặc xử lý trong các công trình khí sinh học, việc ủ compost và bán các sản phẩm chế biến từ phân lợn ra thị trường còn hạn chế; tỷ trọng các trang trại chăn nuôi vừa và nhỏ trên địa bàn điều tra chiếm tỷ lệ lớn và có xu hướng ngày càng gia tăng.
- Đề tài đã nghiên cứu, hoàn thiết bị tách phân đặt tên là NTM-VTL21, thiết bị được chế tạo bằng các vật liệu trong nước có sẵn trên thị trường, phù hợp với nhu cầu thực tế. Thiết bị được thử nghiệm tách phân tại mô hình trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Đề tài đã xây dựng được quy trình công nghệ quản lý, thu gom, tách và xử lý chất thải chăn nuôi lợn phù hợp với quy mô chăn nuôi vừa và nhỏ và tính khả thi cao khi áp dụng cho các trang trại; Quy trình công nghệ sản xuất các loại phân bón hữu cơ từ các nguồn chất thải chăn nuôi lợn có khả năng chuyển giao cho đơn vị sản xuất ở quy mô công nghiệp.
- Đề tài đã phối hợp với Công ty Cổ phần Công nghệ Vi sinh và môi trường, Công ty cổ phần phân bón FUSA tại tỉnh Hải Dương để Xây dựng mô hình sản xuất phân bón hữu cơ dạng rắn, dạng lỏng, quy mô công suất 30 tấn/tháng, đóng gói sản phẩm, xây dựng bao bì, tiến hành đăng ký mã sản phẩm phân bón. Kết quả nghiên cứu sản xuất phân bón hữu cơ được sản xuất nguyên liệu chủ yếu là từ hỗn hợp chất thải chăn nuôi lợn thịt (thành phần chính của phân bón hữu cơ dạng rắn giao động từ 50÷70% chất thải chăn nuôi, phân bón hữu cơ dạng lỏng 100% từ chất thải chăn nuôi).
- Hoạt động tập huấn, chuyển giao về Quản lý môi trường và xử lý chất thải chăn nuôi cho 193 cán bộ thú y và hộ chăn nuôi tại 03 tỉnh đã nâng cao nhận thức cho các hộ chăn nuôi và các bên liên quan về vấn đề tác động môi trường, yêu cầu chất lượng môi trường, các vấn đề ô nhiễm và lợi ích của hộ chăn nuôi khi áp dụng giải pháp công nghệ phù hợp thu gom, tách và xử lý chất thải chăn nuôi lợn áp dụng cho các trang trại chăn nuôi lợn quy mô vừa và nhỏ do đề tài nghiên cứu và đề xuất. Các tài liệu hướng dẫn được xây dựng đơn giản, rõ ràng, và dễ ứng dụng, các lớp tập huấn sẽ giới thiệu dây truyền công nghệ, hướng dẫn xây dựng, lắp đặt cho các hộ nông dân, dẫn đến khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh trên thị trường là rất cao.
- Đề tài đã đề xuất cung cấp số liệu phục vụ đào tạo 01 học viên cao học làm luận văn tốt nghiệp về xử lý môi trường của trường Đại học thuỷ lợi và đã công bố 01 bài báo trên tạp chí Khoa học Công nghệ Thuỷ lợi (năm 2021), tiếp tục công bố 01-02 bài báo trong năm 2022. Đề tài cũng xây dựng 01 video clip giới thiệu về kết quả dự án phục vụ công tác tuyên truyền phổ biến nhân rộng.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 20899/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











