Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ bản quyền báo chí ở Việt Nam trong thời đại số
Cập nhật vào: Chủ nhật - 08/03/2026 09:08
Cỡ chữ
Trong bối cảnh thông tin truyền thông đang chuyển đổi số mạnh mẽ, vấn đề bản quyền báo chí đang ngày càng được quan tâm không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Tình trạng vi phạm bản quyền tác phẩm báo chí đang ngày càng phổ biến, đặc biệt trong môi trường internet, tốc độ và phạm vi vi phạm ngày càng phức tạp và nghiêm trọng.
Tình trạng này đã gây ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và chất lượng báo chí, làm xói mòn tính sáng tạo của các nhà báo chân chính cũng như các cơ quan báo chí Việt Nam. Môi trường cạnh tranh không lành mạnh và bất bình đẳng cũng gây thiệt hại đến hoạt động kinh doanh của các cơ quan báo chí khi bị mất nguồn thu từ quảng cáo. Nghiêm trọng hơn là những ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh, trật tự xã hội và chính trị quốc gia nếu các đối tượng thù địch lạm dụng vi phạm bản quyền báo chí vào dụng ý xấu.
Việt Nam, mặc dù đi sau các quốc gia có hệ thống pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan đến hàng trăm năm, nhưng chúng ta đã kịp thời ban hành các quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ trong lĩnh vực này, bao gồm Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các bản sửa đổi bổ sung các năm 2009, 2019 và gần đây nhất là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội thông qua vào ngày 16/6/2022. Chính phủ và các Bộ chuyên ngành cũng ban hành các Nghị định và Thông tư để hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ để đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách nhất quán.
Bên cạnh đó, để phù hợp với quan hệ hợp tác quốc tế, Việt Nam cũng là thành viên của các điều ước quốc tế, cam kết quốc tế có nội dung về quyền tác giả, quyền liên quan mang tính cốt lõi của hệ thống sở hữu trí tuệ thế giới như: 03 Hiệp định song phương (Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ QTG (1997); Hiệp định Việt Nam - Thụy Sĩ về bảo hộ SHTT và hợp tác SHTT (1999); Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (2000)); 05 điều ước quốc tế đa phương (Công ước Berne (2004) về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật; Công ước Rome (2007) về Bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng; Công ước Geneva(2005); Công ước Brussels (2006); Hiệp định TRIPs (2007)).
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài Thạc sĩ Hoàng Thị Bích Hạnh cùng nhóm nghiên cứu tại Cục Báo chí thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện “Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ bản quyền báo chí ở Việt Nam trong thời đại số” với mục tiêu phục vụ công tác bảo vệ bản quyền báo chí ở Việt Nam trong thời đại số.
Mặc dù đi sau các quốc gia có hệ thống pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan đến hàng trăm năm, nhưng Việt Nam cũng đã kịp thời ban hành các quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ trong lĩnh vực này có bao gồm lĩnh vực báo chí, như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các bản sửa đổi bổ sung các năm 2009, 2019 và gần đây nhất là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội thông qua vào ngày 16/6/2022. Nhưng trên môi trường số thì tình trạng vi phạm bản quyền các tác phẩm báo chí vẫn diễn ra khá phổ biến và ngày càng tinh vi, đặc biệt là đối với các sản phẩm báo chí điện tử. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín, chất lượng của các tờ báo, mà nguồn thu nhập từ quảng cáo của các cơ quan báo chí cũng bị ảnh hưởng. Các cơ quan báo chí chính thống sẽ không còn cơ hội tăng nguồn thu nếu việc vi phạm bản quyền tràn lan không được kiểm soát. Do đó, việc bảo vệ bản quyền báo chí trong thời đại số là một vấn đề cần được giải quyết cấp bách trong bối cảnh hiện nay.
Báo cáo nghiên cứu đề tài sẽ có tính ứng dụng, thiết thực cho công tác quản lý nhà nước của Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) trong trách nhiệm bảo vệ bản quyền báo chí cũng như giúp các cơ quan báo chí nhận diện để cùng có trách nhiệm trong việc tự bảo vệ và đấu tranh bảo vệ bản quyền báo chí của cơ quan mình. Bên cạnh đó, giải pháp được đề xuất là ứng dụng công nghệ với mô hình tạm gọi “nền tảng Media - Hub” có tính khả thi, phù hợp xu thế chuyển đổi số báo chí để đưa vào triển khai trong thực tiễn đồng thời sẽ gợi mở cho các công ty công nghệ tại Việt Nam phối hợp với các chuyên gia cùng nghiên cứu, xây dựng các nền tảng công nghệ Make in Vietnam để cung cấp, hỗ trợ cho các cơ quan báo chí nhằm phát hiện, khống chế, xử lý tranh chấp và ngăn chặn sớm, giảm thiểu vi phạm bản quyền báo chí trên môi trường số, bảo vệ bản quyền báo chí Việt Nam.
Tuy nhiên, một mô hình hay giải pháp nào được đề xuất thì để đạt được hiệu quả, trước hết chính các cơ quan báo chí phải mạnh mẽ cam kết và tự cam kết tuân thủ luật báo chí, luật bản quyền, luật sở hữu trí tuệ và tham gia cùng các cơ quan quản lý nhà nước để chung tay giải quyết vấn đề vi phạm bản quyền báo chí nhằm bảo vệ bản quyền báo chí trên môi trường số. Nhưng chủ thể của một cơ quan báo chí không thể đơn độc chống lại tình trạng vi phạm bản quyền, mà cần có sự vào cuộc của cơ quan nhà nước để thành lập một bộ phận chuyên nghiệp, gồm cả các chuyên gia pháp lý, công nghệ cùng tham gia để xử lý vấn nạn này.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21631/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











