Nghiên cứu đề xuất ứng dụng giải pháp khoa học công nghệ phù hợp trong phòng chống và giảm thiểu rủi ro lũ quét tại khu vực miền núi phía Bắc
Cập nhật vào: Thứ ba - 31/03/2026 10:06
Cỡ chữ
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, lũ quét, lũ bùn đá và sạt lở đất diễn biến ngày càng phức tạp, đặc biệt tại khu vực miền núi phía Bắc. Do tác động của biến đổi khí hậu, các hiện tượng mưa lớn cực đoan có xu hướng gia tăng cả về tần suất, cường độ và phạm vi ảnh hưởng, làm cho lũ quét trở nên khó dự báo, khó kiểm soát và gây hậu quả ngày càng nghiêm trọng. Bên cạnh các yếu tố tự nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh, gia tăng dân số, mở rộng hạ tầng giao thông, khai thác tài nguyên và suy giảm độ che phủ rừng đã góp phần làm gia tăng nguy cơ và mức độ rủi ro do lũ quét gây ra.

Mặc dù Việt Nam đã triển khai một số chương trình, dự án nghiên cứu và xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ lũ quét, các kết quả vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cảnh báo cụ thể, đặc biệt đối với các lưu vực nhỏ, khu vực thượng nguồn thường xảy ra lũ quét nghiêm trọng. Các hệ thống cảnh báo hiện có phần lớn dựa trên lượng mưa và mực nước sông, chưa phản ánh đầy đủ bản chất phát sinh của lũ quét bùn đá. Bên cạnh đó, Việt Nam còn thiếu các hướng dẫn đồng bộ về điều tra, khảo sát, thiết kế, thi công và vận hành các giải pháp phòng chống lũ quét, gây khó khăn cho công tác quản lý và triển khai thực tế. Vì thế, nhóm nghiên cứu của TS. Vũ Bá Thao tại Viện Thủy công đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất ứng dụng giải pháp khoa học công nghệ phù hợp trong phòng chống và giảm thiểu rủi ro lũ quét tại khu vực miền núi phía Bắc” trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2021.
Đề tài hướng đến thực hiện các mục tiêu sau: làm rõ được nguyên nhân hình thành, điều kiện phát sinh, sự vận động, tác hại của lũ quét bùn đá tại một số khu vực trọng điểm, có nguy cơ cao tại khu vực miền núi phía Bắc (khu vực nghiên cứu gồm 07 tỉnh: Sơn La, Lào Cai, Lai châu, Điện Biên, Lào Cai, Bắc Cạn và Hà Giang); đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ công trình và phi công trình phù hợp với đặc thù các vùng thuộc khu vực nghiên cứu nhằm giảm thiểu rủi ro lũ quét bùn đá; và các giải pháp này phải dễ áp dụng, mang lại hiệu quả kinh tế, tận dụng được nguồn lực địa phương và phù hợp với tập quán của cư dân miền núi.
Trong nghiên cứu, các tác giả đã tổng hợp và phân tích có hệ thống các giải pháp phòng chống lũ quét ở trong và ngoài nước; đồng thời đề xuất được các giải pháp khoa học công nghệ công trình và phi công trình phù hợp với đặc thù tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng nghiên cứu. Các giải pháp được xây dựng theo hướng kinh tế, dễ áp dụng, tận dụng nguồn lực tại chỗ và phù hợp với tập quán sinh hoạt của cộng đồng dân cư miền núi, qua đó nâng cao khả năng triển khai trong thực tiễn.
Nhóm nghiên cứu cũng đã xây dựng và hoàn thiện nhiều sản phẩm có giá trị khoa học và ứng dụng cao, bao gồm các hướng dẫn điều tra, khảo sát, phân loại và phân cấp lũ quét; hướng dẫn thiết kế các công trình phòng chống và giảm nhẹ rủi ro lũ quét; hướng dẫn nhận biết và cảnh báo lũ quét dựa vào cộng đồng; cùng với các hồ sơ thiết kế mẫu và tiêu chuẩn chuyển dịch từ nước ngoài. Các sản phẩm này không chỉ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và phương pháp luận trong lĩnh vực phòng chống lũ quét ở Việt Nam, mà còn là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý, địa phương áp dụng trong quy hoạch, đầu tư và tổ chức thực hiện các dự án phòng chống thiên tai.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21684/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
N.P.D (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











