Nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen hải sâm vú Holothuria nobilis Selenka
Cập nhật vào: Thứ năm - 20/11/2025 12:05
Cỡ chữ
Hải sâm vú Holothuria nobilis Selenka là một trong số loài hải sâm quý hiếm, có giá trị kinh tế cao. Ở Việt Nam, loài hải sâm vú đang nằm trong danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển. Trong đó, Khánh Hòa và Bình Thuận là hai tỉnh có nguồn lợi hải sản phong phú, đa dạng và là nơi phân bố của loài hải sâm vú đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Hiện nay, rất ít nghiên cứu về sinh sản nhân tạo hải sâm vú và chưa tìm thấy được tài liệu công bố về nuôi thương phẩm loài hải sâm vú H. nobilis trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Vì vậy, TS. Nguyễn Văn Hùng đã phối hợp với các cộng sự tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen hải sâm vú Holothuria nobilis Selenka” trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2022.
Đề tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo và thử nghiệm nuôi thương phẩm 2 hải sâm vú.
Nhóm nghiên cứu đã xác định được tên loài hải sâm vú phân bố vùng biển Nam trung bộ có đặc điểm hình thái phân loại, cấu trúc bộ xương trong và trật tự DNA trên gen CO1 mtDNA tương đồng cao với 2 loài hải sâm vú Holothuria nobilis và Holothuria fuscogilva. Với kết quả này chưa đủ bằng chứng chứng minh loài hải sâm vú phân bố ở vùng biển Nam trung bộ là loài khác ngoài H. nobilis mà đề tài đang nghiên cứu. Đề tài đã tuyển chọn 1 loài hải sâm vú mà các cá thể có hình thái ngoài vùng mặt lưng có đốm đen trắng nhiều để phục vụ nghiên cứu sinh sản và nuôi thương phẩm.
Về nội dung nghiên cứu xây dựng qui trình sản xuất giống nhân tạo loài hải sâm vú, kết quả cụ thể như sau: Tuyển chọn hải sâm khoẻ mạnh, khối lượng > 1 kg/con để nuôi vỗ. Kỹ thuật nuôi vỗ hải sâm vú bố mẹ mật độ 2 con/m2, bổ sung thức ăn là bột rong khô xay mịn 5 g/m3/ngày, thay nước nước 30% mỗi ngày bằng cách bù tảo tươi đơn bào duy trì mật độ 1 vạn tế bào/mL, kết quả nuôi vỗ hải sâm vú bố mẹ đạt tỷ lệ sống và tỷ lệ thành thục > 80 %. Kỹ thuật ương ấu trùng trôi nổi: độ mặn 30-34 ‰, mật độ 500-600 con/Lít và cho ăn bằng hỗn hợp tảo tươi đơn bào với mật độ tăng dần từ 1,5-2 vạn tế bào/mL theo các giai đoạn biến thái ấu trùng từ tiền-trung-hậu Auricularia. Thời gian ương từ 13-15 ngày. Tỷ lệ sống đạt được đến đầu giai đoạn sống bám (Doliolaria) từ 25-27 %.
Nghiên cứu thử nghiệm nuôi thương phẩm hải sâm vú cho thấy nuôi thương phẩm hải sâm vú từ nguồn giống nhân tạo nên chia 2 giai đoạn: giai đoạn nhỏ (2-3 g/con) nuôi lồng treo và giai đoạn >50 g/con nuôi lồng chìm là hợp lý . Tốc độ tăng trưởng của hải sâm vú đạt 100 -120 g/năm và tỷ lệ sống đạt cao nhất ở mô hình nuôi bằng lồng treo đạt 80%, năng suất đạt 0,74 kg/m3.
Kết quả đề tài sẽ là cơ sở để nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất giống nhân tạo, góp phần tái tạo quần đàn, bảo tồn gen và bảo vệ nguồn lợi, đồng thời hình thành và phát triển nghề nuôi hải sâm vú phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Đây là hải sản quý hiếm, có tiềm năng kinh tế, hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích sức khoẻ và nguồn thu ngoại tệ lớn, góp phần cùng ngành thuỷ sản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 21487/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
N.P.D (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








