Nghiên cứu phát hiện đột biến gen SCN5A và SCN10A gây Hội chứng Brugada bằng kỹ thuật sinh học phân tử
Cập nhật vào: Thứ ba - 04/11/2025 08:07
Cỡ chữ
Hội chứng Brugada (BrS) là một tình trạng rối loạn di truyền liên quan đến dẫn truyền điện tim, làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp thất và đột tử. Trên toàn thế giới, số lượng nghiên cứu lâm sàng và di truyền về hội chứng Brugada tăng lên nhanh trong những năm gần đây. Dù vậy, vai trò của xét nghiệm tình trạng các gen có liên quan nói chung và gen SCN5A, SCN10A nói riêng, trong việc chẩn đoán, định hướng điều trị và tư vấn di truyền cho hội chứng vẫn chỉ dừng ở mức độ là sự đồng thuận của các chuyên gia. Việc xác định tính chất gây bệnh của các biến đổi di truyền trong BrS chỉ mới dừng lại ở mức độ dự đoán in silico trên đơn lẻ từng gen và protein tương ứng. Điều này gây khó khăn cho việc đánh giá mối liên quan giữa các đặc điểm bệnh sử, tiền sử, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng (kiểu hình) với các biến đổi ở cấp độ di truyền (kiểu gen) của người bệnh BrS, gây trở ngại cho việc có được các bằng chứng khoa học làm cơ sở cho các khuyến cáo mạnh mẽ hơn. Số lượng nghiên cứu về bệnh lý này ở Việt Nam còn hạn chế và hầu như chưa có nghiên cứu nào xác định dạng rối loạn di truyền ở bệnh nhân Brugada và người mang gen bệnh.

Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu của PGS. TS. Trần Vân Khánh tại Trường Đại học Y Hà Nội đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phát hiện đột biến gen SCN5A và SCN10A gây Hội chứng Brugada bằng kỹ thuật sinh học phân tử” trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2022.
Đề tài nhằm thực hiện các mục tiêu sau: phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân mắc Hội chứng Brugada ở một số bệnh viện tim mạch Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Huế; xác định đột biến gen SCN5A và SCN10A của bệnh nhân và một số người trong gia đình bệnh nhân mắc hội chứng Brugada; và nhận xét mối liên quan giữa đột biến gen SCN5A và SCN10A và các típ của hội chứng Brugada.
Đề tài đã thu được các kết quả như sau:
(1) Về tỷ lệ đột biến gen SCN5A ở bệnh nhân Brugada:
- Tỷ lệ đột biến gen SCN5A là 25,64% (30/117 bệnh nhân), số lượng đột biến xác định được là 33, số loại đột biến là 21.
- Tỷ lệ theo cơ chế đột biến: nhóm thay thế 1 nucleotit chiếm 75,76%; nhóm mất đoạn, lặp đoạn và cắt nối intron lần lượt là 12,12%; 6,06% và 6,06%.
- Đột biến trên exon chiếm tỉ lệ 93,94%; đột biến trên intron chiếm 6,06%.
- Xét trên cấu trúc protein: đột biến tập trung nhiều ở vùng xuyên màng (41,93%) và đoạn nối giữa các vùng xuyên màng (35,49%), còn lại ở đầu tận amin 12,9% và đầu tận carboxyl 9,68%.
- Về tính gây bệnh dự đoán: 11/21 loại đột biến gây bệnh (52,38%); 6/21 loại đột biến có thể gây bệnh (28,57%); 2/11 loại đột biến lành tính (9,52%); 2/11 loại đột biến chưa kết luận được tính gây bệnh (9,52%).
- 2 bệnh nhân mang cùng lúc 2 đột biến trên gen SCN5A: (1) đột biến N109del và R1193Q; và (2) đột biến A1113V và G1391R.
- Khảo sát tình trạng gen SCN5A ở 2 gia đình bệnh nhân, phát hiện được: đột biến N109del và R1193Q di truyền cho 1 người con trai của bệnh nhân.
(2) Về tỷ lệ đột biến gen SCN10A ở bệnh nhân Brugada
- Tỷ lệ đột biến gen SCN10A là 10,2% (12/117) bệnh nhân.
- Số loại đột biến là 4, thuộc loại đột biến sai nghĩa, chức năng: lành tính hoặc trung tính (50%), có thể gây bệnh (50%).
(3) Về mối liên quan giữa vị trí đột biến gen với các biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân Brugada:
- Ghi nhận được mối liên quan giữa tình trạng có đột biến gen SCN5A với các đặc điểm sau: Yếu tố gia đình có người đột tử dưới 45 tuổi; Triệu chứng ngất chưa rõ nguyên nhân; Triệu chứng nhịp nhanh thất, rung thất; Kết quả dương tính của nghiệm pháp flecanide.
- Ghi nhận được mối liên quan giữa tình trạng có đột biến gen SCN5A gây bệnh và triệu chứng ngất.
- Không ghi nhận mối liên quan giữa tình trạng có đột biến gen SCN10A với các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng.
Việc hoàn thiện bản đồ đột biến và đưa ra được những đánh giá tổng quát về mối liên quan kiểu đột biến-kiểu hình sẽ mở đường cho công tác quản lý dịch tễ phân tử bệnh.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 21454/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
N.P.D (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








