Nghiên cứu phát triển công nghệ nuôi cá biển
Cập nhật vào: Thứ tư - 29/07/2026 13:05
Cỡ chữ
Nuôi hải sản là một tiềm năng thế mạnh của nước ta, với 3.444 km bờ biển, hơn 4.000 hòn đảo và bãi đá ngầm lớn nhỏ, nhiều eo vịnh kín sóng gió, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng hơn 1 triệu km2 . Tổng diện tích tiềm năng nuôi biển của nước ta khoảng 500 ngàn ha; trong đó diện tích nuôi vùng bãi triều ven biển khoảng trên 150 ngàn ha; diện tích nuôi vùng vịnh, eo ngách và ven đảo khoảng 80 ngàn ha; nuôi xa bờ khoảng 100 ngàn ha (Tổng cục Thủy sản, 2022). Nuôi biển là lĩnh vực quan trọng trong phát triển kinh tế biển, vừa góp phần nâng cao sinh kế cho người dân, vừa góp phần giữ vững an ninh và chủ quyền biển đảo.
Trong hơn 2 thập kỷ qua, nghề nuôi cá biển ở nước ta đã được quan tâm phát triển, với nhiều đối tượng nuôi có giá trị như cá song, cá chẽm, cá giò, cá nhụ, cá hồng, cá chim vây vàng, cá sủ đất, cá cam, cá rô biển, cá bống, cá tráp, cá măng, cá đối, cá nâu... Nhiều tỉnh thành đã có nghề nuôi cá biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cà Mau, Kiên Giang...
Nghề nuôi cá biển ở nước ta có sự phát triển liên tục, song vẫn còn nhiều hạn chế. Sự hình thành và phát triển các vùng nuôi cá biển còn mang tính tự phát và nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch chi tiết, thiếu những kỹ thuật trọng yếu về con giống, thức ăn, hệ thống, quy trình công nghệ ương nuôi, kiểm soát bệnh, môi trường...
Trước thực trạng đó, Chủ nhiệm đề tài TS. Trần Thế Mưu cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I thực hiện đề tài “Nghiên cứu phát triển công nghệ nuôi cá biển” với mục tiêu: Xây dựng được cơ sở khoa học và quy trình công nghệ phát triển nuôi thương phẩm một số loài cá biển có giá trị kinh tế trong ao và lồng sử dụng thức ăn công nghiệp.

Ví dụ về hình ảnh của một vị trí nuôi lồng (Cardia & Lovatelli, 2015)
Nuôi trồng thủy sản thế giới ngày càng phát triển mạnh và được công nhận đã góp phần thiết yếu vào an ninh lương thực và dinh dưỡng toàn cầu trong thế kỷ XXI (FAO, 2022).
Tổng sản lượng (khai thác và nuôi trồng) thủy sản thế giới liên tục tăng theo thời gian, đạt đỉnh cao nhất vào năm 2018 với 178,9 triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt đỉnh với 96,5 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng 82,5 triệu tấn. Theo xu hướng phát triển ngành thủy sản bền vững toàn cầu, bảo vệ an toàn nguồn lợi tự nhiên và thân thiện với môi trường, sản lượng khai thác thủy sản trong những năm gần đây đã có xu hướng giảm xuống, năm 2019 là 92,2 triệu tấn, năm 2020 chỉ còn 90,3 triệu tấn, thấp hơn sản lượng khai thác của 2 thập kỷ trước đó. Trong khi đó, sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới liên tục tăng lên. Từ những năm 1990, sản lượng nuôi trồng thủy sản trung bình năm là 21,8 triệu tấn; tăng dần lên 43,4 triệu tấn trung bình những năm 2000; đến những năm 2010 đạt trung bình năm 71,5 triệu tấn; năm 2018 là 82,5 triệu tấn; năm 2019 đạt 85,2 triệu tấn; và năm 2020 đạt 87,5 triệu tấn. Tương ứng với những cột mốc đó, tỷ phần nuôi trồng thủy sản trong tổng sản lượng thủy sản cũng tăng dần: 19,69; 32,32; 43,97; 46,12; 48,03; 49,21% (Bảng 1). Như vậy, từ những năm 1990, sản lượng nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm chưa đến 1/5 trong tổng sản lượng thủy sản, sau 3 thập kỷ, năm 2020, sản lượng nuôi trồng thủy sản đã chiếm gần một nữa trong tổng sản lượng thủy sản, nghĩa là gần tương đương với tổng sản lượng khai thác. Tính trung bình, trong giai đoạn 1990 - 2020, sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng khoảng 6,7%/năm (FAO, 2022). Những số liệu thống kê cập nhật trên đây đã cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành nuôi trồng thủy sản nói chung trên toàn thế giới.
Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Bộ thông số đặc trưng đánh giá sức tải môi trường đã được xây dựng với các thông số được kế thừa, các thông số đã tính được và các thông số thu thập thực tế, từ đó tính được sức tải môi trường, làm cơ sở đánh giá tác động của trại nuôi đến môi trường, và có thể làm cơ sở cho việc quy hoạch, thiết kế những vùng nuôi mới.
Đã xây dựng được 03 công thức thức ăn công nghiệp có thể thay thế cá tạp trong nuôi thương phẩm cá giò, cá nhụ và cá song chấm nâu:
- Đối với cá giò, thức ăn công nghiệp có hàm lượng lipid 15 - 18% là phù hợp để thay thế thức ăn cá tạp.
- Đối với cá nhụ, thức ăn công nghiệp có hàm lượng lipid 18% và protein 45 - 50% là phù hợp để thay thế thức ăn cá tạp.
- Đối với cá song chấm nâu, thức ăn công nghiệp có bổ sung taurine 0,5% là phù hợp để thay thế thức ăn cá tạp.
Đã xây dựng được 7 Quy trình nuôi thương phẩm: (1) Quy trình nuôi thương phẩm cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790) trong ao sử dụng thức ăn công nghiệp; (2) Quy trình nuôi thương phẩm cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790) trong lồng sử dụng thức ăn công nghiệp; (3) Quy trình nuôi thương phẩm cá giò Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) trong lồng sử dụng thức ăn công nghiệp; (4) Quy trình nuôi thương phẩm cá hồng Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) trong ao sử dụng thức ăn công nghiệp; (5) Quy trình nuôi thương phẩm cá nhụ bốn râu Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804) trong ao sử dụng thức ăn công nghiệp; (6) Quy trình nuôi thương phẩm cá song chấm nâu Epinephelus coioides (Hamilton, 1822) trong ao sử dụng thức ăn công nghiệp; (7) Quy trình nuôi thương phẩm cá song chấm nâu Epinephelus coioides (Hamilton, 1822) trong lồng sử dụng thức ăn công nghiệp.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 22138/2023) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











