Nghiên cứu xây dựng bản đồ phát thải các chất gây ô nhiễm không khí phục vụ dự báo và kiểm soát ô nhiễm không khí vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Cập nhật vào: Thứ tư - 26/11/2025 12:05
Cỡ chữ
Các chất gây ô nhiễm không khí và khí nhà kính là mối đe dọa toàn cầu đối với môi trường và sức khỏe con người. Theo Cơ quan Môi trường Châu Âu (EEA), tiếp xúc với ô nhiễm không khí có thể dẫn đến một loạt các bệnh như đột quỵ, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, khí quản, phế quản và ung thư phổi, làm trầm trọng thêm bệnh hen suyễn và nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Vì vậy, quản lý chất lượng không khí nên được khẩn trương xem xét để bảo vệ sức khỏe con người. Ở Việt Nam, vấn đề này cũng được đặc biệt chú ý với việc ban hành nhiều văn bản pháp quy như Quyết định số 985a /QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 với mục tiêu tổng quát tăng cường công tác quản lý chất lượng không khí thông qua kiểm soát nguồn phát sinh khí thải và giám sát chất lượng không khí xung quanh nhằm cải thiện chất lượng môi trường không khí và bảo đảm sức khỏe cộng đồng...

Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu tại Viện Môi trường và Tài nguyên do PGS. TS. Hồ Quốc Bằng dẫn đầu đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng bản đồ phát thải các chất gây ô nhiễm không khí phục vụ dự báo và kiểm soát ô nhiễm không khí vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” trong thời gian từ năm 2020 đến năm 2022.
Đề tài nhằm thực hiện mục tiêu thống kê được các nguồn có tiềm năng phát thải cao đối với các chất gây ô nhiễm như SO2, CO, NOx, PM10 và PM2.5; và xây dựng bản đồ (ước lượng) phân bố phát thải các chất ô nhiễm không khí theo không gian.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra, khảo sát, phỏng vấn, thu thập, xử lý và tính toán phát thải khí thải cho các loại nguồn: công nghiệp, giao thông, sinh học, dân sinh và các nguồn nhỏ lẻ. Kết quả tính toán phát thải tổng hợp:
- Hoạt động giao thông chiếm phát thải cao nhất hầu hết cho các chất ô nhiễm cụ thể hoạt động giao thông chiếm 96,6% trong tổng phát thải CO của toàn TP. Hà Nội, NOx 94,1%, SO2 36,3%, PM2.5 66,3% và PM10 54%;
- Hoạt động công nghiệp chiếm 57,2% trong tổng phát thải SO2 của toàn thành phố, PM2.5 8,4% và PM10 19,6%;
- Nguồn dân sinh và các nguồn nhỏ lẻ (không tính nguồn sinh học) chiếm lần lượt 25,3%, 26,4%, 6,5% trong tổng phát thải các chất PM2.5, PM10, SO2 của toàn TP. Hà Nội.
Bên cạnh đó, các tác giả đã xác định được nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí TP. Hà Nội chi tiết cho từng chất:
- Đối với phát thải NOx, 32% phát thải đến từ xe mô tô, gắn máy; xe buýt, xe khách chiếm 22%; 16,3% đến từ hoạt động của xe tải nặng, phát thải từ hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) chiếm 6,8%.
- Đối với CO, hoạt động của xe mô tô, gắn máy chiếm đến 94,3% tổng phát thải của toàn TP. Hà Nội, hoạt động đốt sinh khối chỉ chiếm 1,7%.
- Đối với SO2, phát thải nhiều nhất đến từ hoạt động sản xuất VLXD với 28,5% và hoạt động của xe mô tô, gắn máy với 18,3%, 2 nguồn còn lại là hoạt động của xe ô tô và sản xuất thực phẩm, đồ uống chiếm lần lượt 13,4% và 12,2%, đốt sinh khối chiếm 6,3% tổng phát thải.
- Đối với bụi PM2.5 và PM10, hoạt động của xe tải nặng chiếm tỉ lệ phát thải cao nhất với 27,8%% và 23%, tiếp đến là hoạt động của xe ô tô chiếm lần lượt 18,6% và 14,9%, ngoài ra hoạt động đốt sinh khối cũng chiếm 18,2% tổng phát thải PM2.5
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng đã tính toán phát thải cho các nguồn điểm lớn có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng không khí TP. Hà Nội của 04 tỉnh thuộc khu vực lân cận TP. Hà Nội bao gồm: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc. Kết quả tính toán này là tiền đề cho các nghiên cứu mô phỏng lan truyền ô nhiễm không khí khu vực TP. Hà Nội thực hiện sau này.
Nhóm nghiên cứu đã xây dựng bản đồ phân bố không gian các chất ô nhiễm cho toàn bộ khu vực nghiên cứu, là cơ sở cho các nghiên cứu mô phỏng lan truyền ô nhiễm không khí thực hiện sau này.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 21497/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
N.P.D (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








