Sản xuất túi dự trữ nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất cho dân cư ở các vùng chịu thiệt hại xâm nhập mặn và thí điểm tại tỉnh Bến Tre
Cập nhật vào: Thứ sáu - 13/06/2025 13:04
Cỡ chữ
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) còn được gọi là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ, nằm ở cực nam của Tổ quốc, là một trong những đồng bằng lớn và phì nhiêu của khu vực Đông Nam Á và thế giới. ĐBSCL chịu tác động của hai khối nước lớn là sông Mê Công và thủy triều của biển, do đó chế độ thủy văn của khu vực khá phức tạp. Khu vực Tây Nam Bộ có 1 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau.

Những năm gần đây, diễn biến xâm nhập mặn ở ĐBSCL hết sức phức tạp, bất thường so với cùng kỳ nhiều năm. Tại một số tỉnh ven biển ĐBSCL, nước biển xâm nhập sâu vào các sông rạch khiến các dòng sông bị nhiễm mặn sớm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân và hoạt động nông nghiệp như đất bị nhiễm mặn, thiếu nước ngọt sinh hoạt và sản xuất.
Nguồn nước ngọt khu vực Tây Nam Bộ có nguy cơ sẽ khan hiếm hơn do tác động của BĐKH. Theo dự báo, nước biển dâng trung bình khoảng 30 cm vào năm 2050 và 75 cm vào năm 2100 kết hợp với dòng chảy kiệt phía thượng lưu ngày càng giảm sẽ làm cho mặn từ biển xâm nhập sâu vào trong đất liền. Vào cuối thế kỷ 21, chiều sâu xâm nhập ứng với độ mặn 1‰ có thể tăng lên trên 20 km trên sông Tiền. Ranh giới mặn 1 g/l trên sông Tiền nằm ở phía thượng lưu TP. Vĩnh Long 3 km (cao 6 hơn hiện nay 9,5 km) và trên sông Hậu cao hơn hiện nay 8,5 km. Ranh giới mặn 4 g/l trên sông Tiền cao hơn hiện nay 9 km.
Bến Tre là một tỉnh nằm cuối nguồn của sông Mê Kông, Theo đánh giá của các chuyên gia trong nước và quốc tế, do đặc điểm nằm cuối nguồn nên chất lượng nguồn nước của Bến Tre bị tác động xấu và đang ngày càng chịu áp lực nặng nề bởi các thách thức về nước trong tương lai. Hệ thống sông rạch của tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thủy triều bán nhật triều không đều từ Biển Đông với biên độ từ 3 - 3,5 m. Do ảnh hưởng của dòng triều vào mùa khô xâm nhập mặn kết hợp với hán kéo dài gây nên tình trạng thiếu nước sinh hoạt một cách trầm trọng.
Hiện nay, trong nước cũng như trên thế giới, túi mềm chứa chất lỏng nói chung và chứa nước sinh hoạt nói riêng ngày càng được sử dụng rộng rãi do tính tiện lợi và giá thành chấp nhận được của loại phương tiện này. Đặc biệt công nghệ vật liệu phát triển cung cấp các loại vải tráng phủ nhựa nhiều lớp có độ bền cơ lý cao và an toàn về môi trường & sức khỏe đã tạo thuận lợi cho các nhà sản xuất chế tạo và đưa ra thị trường nhiều chủng loại túi mềm có chất lượng tốt và đủ các mẫu mã, kích thước cho người sử dụng lựa chọn. Tính linh động cơ học của loại vật liệu túi mềm có thể giúp các nhà thiết kế tạo ra được các cấu trúc túi phù hợp để dễ dàng lắp đặt ở bất cứ địa điểm nào với kích thước yêu cầu.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài Thạc sĩ Nguyễn Đình Chinh cùng nhóm nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Nhựa Tân Đại Hưng thực hiện đề tài “Sản xuất túi dự trữ nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất cho dân cư ở các vùng chịu thiệt hại xâm nhập mặn và thí điểm tại tỉnh Bến Tre” với mục tiêu: Sản xuất túi dự trữ nước sinh hoạt và sản xuất đủ cung cấp theo nhu cầu cho khu vực gặp khó khăn về nước ở Tây Nam Bộ; Quy mô sản xuất: sản xuất được các loại túi mềm với tổng dung tích 27.000 m3 /năm; Chất lượng sản phẩm: thời gian sử dụng trên 10 năm, thuận tiện trong vận chuyển lắp đặt sử dụng và cất giữ bảo quản. Vật liệu chế tạo túi bền với thời tiết khí hậu nhiệt đới biển, đồng thời đáp ứng QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt.
Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Khảo sát hiện trường nhằm nắm bắt nhu cầu thực tế về nước cho sinh hoạt cũng như nước cho sản xuất của người dân để triển khai thiết kế túi chứa nước phù hợp: đánh giá được nhu cầu sử dụng nước của người dân, từ đó đề xuất phương án sản xuất các loại túi chứa nước có kích thước phù hợp. Cụ thể, đã đề nghị thay đổi sản phẩm của Dự án, từ các mô hình túi 5 m3 , 30 m3 , 50 m3 thành các sản phẩm phù hợp hơn là 7 m3 , 15 m3 và 25 m3 (theo quyết định số 334/QĐ-ĐHQG ngày 11/5/2020 về việc điều chỉnh sản phẩm nhiệm vụ KHCN cấp Quốc gia thuộc Chương trình Tây Nam Bộ của Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh)
Nghiên cứu cải tiến công nghệ sản xuất để phù hợp với loại vật liệu mới: từ công nghệ túi chứa nước 1 lớp thành công nghệ sản xuất túi chứa nước 2 lớp với ưu điểm tuổi thọ cao, thuận tiện trong gia công sản xuất cũng như sử dụng và bảo dưỡng sửa chữa.
Nghiên cứu thiết lập đơn pha chế vật liệu túi chứa nước phù hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng vùng TNB chịu tác động của BĐKH: lớp vỏ chịu lực bên ngoài được gia công từ sợi PP.
Nghiên cứu thử nghiệm và đánh giá chất lượng sản phẩm tại hiện trường phù hợp điều kiện môi trường chịu tác động BĐKH thực tế, túi mềm chứa nước có khả năng sử dụng lâu dài, tuổi thọ lên đến 8-10 năm và chất lượng nước chứa đạt tiêu chuẩn QCVN 02:2009/BYT
Nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện quy trình vận hành thiết bị sản xuất và sản phẩm phù hợp với điều kiện trang thiết bị máy móc nhà xưởng của Công ty Cổ phần Nhựa Tân Đại Hưng, đáp ứng nhu cầu về Túi chứa nước cho Vùng Tây Nam Bộ, dây chuyền sản xuất có thể đạt đến 27.000 m3/năm
Đào tạo và chuyển giao công nghệ cho các công nhân kỹ thuật vận hành chế tạo sản xuất túi chứa nước tại nhà máy và duy tu bảo dưỡng cho người dân khi có yêu cầu.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 20748/2022) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








