Thúc đẩy kết nối hạ tầng Việt Nam - Ấn Độ
Cập nhật vào: Thứ ba - 10/03/2026 20:06
Cỡ chữ
Về tổng thể, hiện nay trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về kết nối, đặc biệt là các công trình về kết nối liên và xuyên khu vực rất phong phú về số lượng và đa dạng về nội dung. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về kết nối hạ tầng giữa Việt Nam và Ấn Độ của các học giả phương Tây cũng như của các học giả Ấn Độ và Việt Nam khá hạn chế. Số ít công trình này chủ yếu tập trung vào những kết nối về văn minh và lịch sử của Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung với Ấn Độ, chứ chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu sâu vào kết nối về hạ tầng giữa Việt Nam và Ấn Độ. Hoặc nếu có cũng chủ yếu chỉ được đề cập trong các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ nói chung.
Nhìn chung, những công trình của các học giả trong nước và nước ngoài đã đề cập đến những nội dung liên quan đến hoạt động kết nối hạ tầng của Ấn Độ và ASEAN và là nguồn tư liệu quý giá đối với nhóm thực hiện đề tài. Tuy nhiên, những nghiên cứu ở ngoài nước vẫn chủ yếu thể hiện những góc nhìn chủ quan của các học giả Ấn Độ và quốc tế. Các tài liệu trong nước về chủ đề này cũng còn ít và mang tính phân mảnh. Việc nghiên cứu đề tài một cách toàn diện từ góc nhìn của học giả phía Việt Nam sẽ là đóng góp hữu ích của đề tài. Các nghiên cứu về thúc đẩy kết nối hạ tầng Việt Nam - Ấn Độ có rất ít, thậm chí là rất khó để tìm.
Kết nối chính là gốc của phát triển bao trùm, là cơ sở để tạo ra việc làm, cải thiện cuộc sống cho người dân. Đặc biệt, khi cả thế giới đang hướng về cuộc cách mạng 4.0 và cùng nhau vượt qua hoàn toàn của đại dịch COVID-19 bằng cách chuẩn bị những nền tảng kỹ thuật số hiện đại, phù hợp để có thể bứt phá và tạo lợi thế trong cạnh tranh kinh tế, thì kết nối hạ tầng cũng có sự chuyển đổi về chất, khi không chỉ bao hàm sự kết nối về giao thông cũng như cơ sở vật chất mà còn là sự kết nối cần đến hàm lượng tri thức cao trong lĩnh vực kỹ thuật số. Việc tìm ra giải pháp phù hợp để mang lại hiệu quả thực chất hơn trong việc tăng cường kết nối hạ tầng giữa hai nước Việt Nam - Ấn Độ là vấn đề rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài Tiến sĩ Đặng Thu Thủy cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á thực hiện đề tài “Thúc đẩy kết nối hạ tầng Việt Nam - Ấn Độ” với mục tiêu tìm hiểu thực trạng và lý giải nguyên nhân khiến cho quá trình kết nối hạ tầng Việt Nam - Ấn Độ bị tắc nghẽn, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình kết nối hạ tầng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế song phương giữa hai nước trong kết nối khu vực Ấn Độ- ASEAN.

Vấn đề kết nối hạ tầng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Ấn Độ, đáp ứng nhu cầu tất yếu của chính phủ, các doanh nghiệp và người dân hai nước về lưu thông, thương mại, du lịch và nhiều vấn đề kinh tế xã hội khác. Trong cơn bão phát triển hạ tầng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, kết nối hạ tầng giữa Ấn Độ với Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng trở thành chìa khóa để thúc đẩy sự phát triển của khu vực. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, kết nối hạ tầng không thông suốt sẽ là nút thắt mà hai nước cần phải tháo gỡ để quan hệ hợp tác thực sự đi vào chiều sâu. Và thực tế cho thấy rằng, chính sự chậm chạp thiếu hiệu quả trong kết nối hạ tầng đã dựng lên rào cản trong hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch… khiến cho những lĩnh vực hợp tác trọng điểm giữa Việt Nam và Ấn Độ chưa thể đạt được như kỳ vọng của cả hai phía.
Từ kết quả phân tích của đề tài, có thể thấy vấn đề kết nối hạ tầng Việt Nam - Ấn Độ vẫn luôn là bài toán khó còn tồn tại nhiều vướng mắc chưa thể giải quyết, thể hiện ở một số điểm:
Thứ nhất, cả hai bên chưa đưa ra một kế hoạch kết nối hoàn chỉnh và đồng bộ để có thể làm thông suốt và thuận lợi con đường giao thương từ Việt Nam đến Ấn Độ và ngược lại, cho dù đó là đường sắt, đường bộ và đường biển (hạ tầng cứng), hay các hiệp định và thỏa thuận (hạ tầng mềm). Cả hai chưa có các dự án kết nối song phương mà chỉ có các dự án nằm trong kế hoạch kết nối chung giữa Ấn Độ với ASEAN. Dẫu rằng kết nối song phương là một bộ phận không thể tách rời của kết nối toàn khu vực và nên được đặt trong kết nối khu vực, nhưng hai quốc gia muốn đi vào hợp tác sâu sắc và toàn diện thì không thể không có những kết nối riêng tư hơn mang tính chất song phương giữa hai nước.
Thứ hai, bản thân các dự án đa phương hiện nay cũng chưa đủ để bù đắp cho những lỗ hổng về kết nối hạ tầng giữa hai nước. Các dự án này hầu hết đều trong giai đoạn khởi đầu và bị đừng trệ khá lâu. Gói hỗ trợ 1 triệu USD của Ấn Độ cho kết nối với ASEAN vẫn chưa được giải ngân để thúc đẩy các dự án này được hoàn thiện. Những phần đã thực hiện được chỉ là rất nhỏ so với những nội dung công việc chưa được thực hiện ở mỗi dự án, và các phần công việc đã được thực hiện này không diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam.
Thứ ba, giữa hạ tầng cứng và hạ tầng mềm có sự gắn bó hữu cơ và mật thiết, hạ tầng mềm là cơ sở để xây dựng và vận hành hạ tầng cứng, hạ tầng cứng là nền tảng để hạ tầng mềm phát triển. Tuy nhiên kết nối hạ tầng cứng và hạ tầng mềm giữa Ấn Độ - Việt Nam nói riêng cũng như Ấn Độ - ASEAN nói chung hiện nay đang thiếu sự đồng bộ, gắn kết, sự chậm trễ, lạc hậu của hạ tầng này làm ảnh hưởng đến tiến độ kết nối hạ tầng kia và ngược lại. Các hiệp định về giao thông vận tải là cơ sở để hoàn thành các dự án kết nối đường bộ, đường sắt hay đường hàng hải nhưng các một số hiệp định này chưa được ký kết mà mới chỉ dừng lại ở dạng dự thảo. Trong khi đó hiệp định về thương mại đã không còn phù hợp với xu hướng giao thương quốc tế hiện nay nhưng vẫn chưa được điều chỉnh, cho nên nó không tạo ra động lực để thúc đẩy thương mại cũng như thúc đẩy việc xây dựng các tuyến đường kết nối giao thương. Ở chiều ngược lại, các dự án xây dựng hạ tầng cứng còn hạn chế và đình trệ khiến cho các bên chưa có cơ sở để đàm phán, bởi mọi kế hoạch đều còn dang dở và chưa có hướng phát triển trong tương lai. Nhìn chung, kết nối hạ tầng Việt Nam - Ấn Độ không chỉ thiếu, yếu, nhiều lỗ hổng mà còn phức tạp và khó có thể định hình rõ nét.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21627/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











