Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật theo phương thức chăn nuôi an toàn sinh học (Lợn rừng lai Gà thả vườn) trong chuỗi giá trị khép kín tại tỉnh Tuyên Quang
Cập nhật vào: Thứ hai - 01/12/2025 12:05
Cỡ chữ
Nhằm thúc đẩy chăn nuôi hữu cơ và tăng thu nhập cho người dân Tuyên Quang, KS. Phạm Quốc Hợi cùng các cộng sự tại Công ty Cổ phần Giống Vật tư Nông lâm nghiệp Tuyên Quang, với sự hỗ trợ từ Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang, đã triển khai đề tài “Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật theo phương thức chăn nuôi an toàn sinh học (Lợn rừng lai, Gà thả vườn) trong chuỗi giá trị khép kín tại tỉnh Tuyên Quang”.

Đề tài tập trung ứng dụng các tiến bộ công nghệ vào chăn nuôi lợn rừng lai (kết hợp giữa lợn rừng với lợn đen địa phương/lợn Mán/lợn Mông), gà thương phẩm ML-VCN và gà HA hướng trứng theo hướng an toàn sinh học, tiệm cận chăn nuôi hữu cơ, đồng thời xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.
Dự án này hướng tới việc hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao và tiếp nhận thành công 04 quy trình kỹ thuật, bao gồm 03 quy trình từ Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương và 01 quy trình từ Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì. Song song đó, đề tài sẽ xây dựng các mô hình chăn nuôi đa dạng: mô hình chăn nuôi lợn rừng lai (cả sinh sản tập trung và thương phẩm quy mô hộ gia đình), mô hình nuôi gà bố mẹ LV sinh sản (tập trung và hộ gia đình), mô hình nuôi gà HA đẻ trứng thương phẩm (tập trung và hộ gia đình), và mô hình nuôi gà lai ML-VCN thương phẩm (tập trung và hộ gia đình). Ngoài ra, đề tài còn chú trọng phát triển mô hình trồng cây thức ăn xanh thô phục vụ chăn nuôi và mô hình chế biến thức ăn bằng công nghệ ủ men sinh học sử dụng chế phẩm E.M.
Sau một thời gian triển khai, đề tài đã thu được những kết quả tích cực và đáng ghi nhận như sau:
1. Nâng cao năng lự kỹ thuật và nhận thức cộng đồng
Kết quả thực hiện dự án đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao nhận thức và trình độ kỹ thuật cho cả người dân và đội ngũ cán bộ kỹ thuật địa phương. Thông qua các lớp tập huấn chuyên sâu, hoạt động chuyển giao quy trình công nghệ và các mô hình thực tiễn, năng lực ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất giống, cũng như chăn nuôi lợn và gà thương phẩm, đã được cải thiện rõ rệt.
2. Cải thiện chất lượng sản phẩm và phát triển nông nghiệp an toàn
Hiệu quả ứng dụng khoa học và công nghệ trên các mô hình của dự án không chỉ cải thiện chất lượng sản phẩm chăn nuôi mà còn tạo thêm việc làm cho người dân địa phương. Dự án đã định hướng sản xuất nông nghiệp an toàn, thân thiện với môi trường, cam kết không sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, nhờ đó sản phẩm đạt được độ an toàn thực phẩm cao, đáp ứng nhu cầu thị trường và sức khỏe người tiêu dùng.
3. Thúc đẩy hợp tác khoa học công nghệ và tiếp cận thị trường
Dự án đã góp phần tích cực vào việc tham gia thị trường công nghệ, tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa tỉnh Tuyên Quang với các trung tâm nghiên cứu và tổ chức khoa học và công nghệ trong nước. Điều này không chỉ nâng cao tầm nhận thức về khoa học và công nghệ mà còn giúp người dân địa phương dễ dàng tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ mới vào sản xuất.
4. Đảm bảo chất lượng và hiệu quả triển khai các mô hình
Dự án đã triển khai đầy đủ các nội dung và đảm bảo chất lượng các hạng mục đầu tư theo đúng thuyết minh và hợp đồng đã ký kết giữa đơn vị chủ trì với Văn phòng Chương trình Nông thôn và Miền núi thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Cụ thể, các mô hình đã đạt được những kết quả ấn tượng:
* Mô hình nuôi lợn rừng lai tập trung: Đạt 100% so với hợp đồng, với quy mô 40 lợn nái và 06 lợn đực. Tổng số lợn con nuôi sống đến khi xuất bán là 674 con, và hiện có 14 con lợn đang mang thai, tất cả đều đạt yêu cầu đề ra.
* Mô hình chăn nuôi lợn vệ tinh: Đạt 100% so với hợp đồng, triển khai tại 03 hộ gia đình với quy mô 200 con/hộ (tổng cộng 600 con). Dự án đã xuất bán 26,16 tấn thịt ra thị trường, và 03 hộ vẫn đang tiếp tục nuôi tổng cộng 212 con lợn thương phẩm, đạt yêu cầu đã phê duyệt.
* Mô hình trồng cây xanh và ủ men sinh học chế biến thức ăn: Đã trồng 2,5 ha các loại rau, củ, quả, với sản lượng bình quân khoảng 180 tấn chè khổng lồ, 18,52 tấn lúa thương phẩm, 25,65 tấn ngô thương phẩm, và 84,24 tấn rau xanh các loại (khoai lang, rau lấp, rau muống, cỏ hoàn ngọc, cải bắp...). Ngoài ra, dự án đã ủ thành công 50 tấn thức ăn bằng men sinh học để cung cấp cho vật nuôi, giúp đảm bảo dinh dưỡng, giảm giá thành đầu vào và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường.
* Mô hình chăn gà HA đẻ trứng thương phẩm: Triển khai quy mô 4.000 con (gồm mô hình tập trung 2.000 gà mái và 04 mô hình vệ tinh hộ gia đình, mỗi hộ 500 gà mái). Năng suất trứng đạt 234,74 quả/mái/72 tuần tuổi (đạt 102,1% so với yêu cầu) và tiêu tốn thức ăn chỉ 1,85 kg/10 quả trứng, đạt mục tiêu đề ra.
* Mô hình chăn nuôi gà LV sinh sản: Triển khai quy mô 2.000 con (gồm mô hình tập trung 500 con và 03 hộ gia đình nuôi phân tán, mỗi hộ 500 con). Năng suất trứng đạt 171,33 quả/mái/68 tuần tuổi và tỷ lệ trứng đủ tiêu chuẩn giống là 96,41%, đều đạt yêu cầu hợp đồng.
* Mô hình chăn nuôi gà lai ML-VCN: Triển khai quy mô 4.000 con (gồm mô hình tập trung 1.000 con và 06 hộ gia đình nuôi phân tán, mỗi hộ 500 con). Khối lượng cơ thể khi xuất bán đạt 1,8 kg/con và tiêu tốn thức ăn chỉ 1,65 kg/kg tăng khối lượng cơ thể, đạt yêu cầu đã phê duyệt.
5. Đào tạo và tập huấn chuyển giao công nghệ
Dự án đã tổ chức đào tạo thành công 07 kỹ thuật viên cơ sở về các quy trình công nghệ (hoàn thành 100% mục tiêu). Các kỹ thuật viên này đã làm chủ được quy trình chăn nuôi lợn, gà, cũng như phương pháp chỉ đạo và quản lý dự án. Ngoài ra, 03 lớp tập huấn đã được tổ chức cho 150 lượt người dân tham gia dự án và vùng dự án về các quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn, gà (hoàn thành 100%). Sau các buổi tập huấn và sự hướng dẫn trực tiếp từ kỹ thuật viên cơ sở, các hộ dân đã tiếp cận được các quy trình và có khả năng tự thực hiện sau khi kết thúc từng mô hình.
Để Chương trình nông thôn miền núi đạt được hiệu quả cao hơn trong tương lai, đơn vị chủ trì dự án xin đưa ra một số kiến nghị sau:
Sau khi dự án kết thúc, đề nghị Chính quyền địa phương chỉ đạo các bộ phận chuyên môn tích cực vận động các hộ dân có tiềm lực phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, hoặc liên kết các hộ dân thành tổ/nhóm để nhân rộng mô hình. Đồng thời, cần có những chương trình chuyển tiếp tương tự với quy mô nhỏ hơn, do cấp huyện, tỉnh cấp ngân sách và tổ chức thực hiện thành công các mô hình đó. Điều này sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, tạo ra sản phẩm chất lượng cao và có sức cạnh tranh. Bên cạnh đó, cần tổ chức chăn nuôi nông hộ với quy mô hợp lý, có kiểm soát, đảm bảo an toàn sinh học và phòng chống dịch bệnh hiệu quả.
Về cơ chế chính sách, đề nghị các cơ quan hữu quan xây dựng và ban hành các chính sách về vốn vay ưu đãi nhằm khuyến khích các hộ chăn nuôi đầu tư với quy mô hợp lý. Mục tiêu là tạo ra các vùng chăn nuôi hàng hóa tập trung, cung cấp sản phẩm chất lượng cao với giá thành hợp lý, từ đó nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Về tổ chức quản lý, đề nghị các cơ quan quản lý Nhà nước cùng đơn vị chủ trì tiếp tục duy trì, quản lý, bảo vệ và khai thác hiệu quả các mô hình của dự án. Đặc biệt, trong quản lý các dự án thuộc Chương trình Nông thôn Miền núi, cần có sự linh hoạt hơn nữa, kịp thời giải quyết các kiến nghị và đề xuất từ các tổ chức chủ trì dự án, nhằm thích ứng với những thay đổi và biến động thực tế ở từng giai đoạn, từng thời điểm.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21183/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








