Nghiên cứu xác định dòng Cà phê vối chất lượng cao phù hợp với một số vùng trồng chính ở tỉnh Đắk Lắk
Cập nhật vào: Thứ tư - 23/07/2025 00:03
Cỡ chữ
Đắk Lắk có 298.365,4 ha đất đỏ bazan, khí hậu thuận lợi cho phát triển các cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, hồ tiêu, nhất là cây cà phê. Theo số liệu thống kê năm 2023, Đắk Lắk là tỉnh có diện tích trồng cà phê lớn nhất ở Việt Nam, chiếm trên 30% diện tích cả nước, diện tích cà phê niên vụ 2023 của Đắk Lắk đạt 212.106 ha, năng suất bình quân đạt 26,72 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 535.672 tấn. Cà phê được trồng ở 14/15 huyện/thị/thành phố của tỉnh, trong đó 2 huyện có diện tích trồng cà phê lớn nhất là huyện Cư Mgar huyện Ea H’leo với tỷ lệ chiếm 17,7% và 15,3% diện tích cà phê toàn tỉnh. Theo kế hoạch, đến năm 2030, Đắk Lắk ổn định diện tích trồng cà phê 170.000 - 180.000 ha với năng suất trung bình 2,8 tấn/ha đảm bảo sản lượng 476.000 - 504.000 tấn/năm.
Để nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới, góp phần phát triển bền vững ngành cà phê Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) đã phê duyệt “Đề án phát triển cà phê đặc sản Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030”, trong đó, tỉnh Đắk Lắk sẽ phát triển cà phê vối đặc sản tại 05 xã thuộc 03 huyện/thành phố, gồm: huyện Krông Năng (xã Ea Tân, Ea Toh); huyện Krông Pắc (Hòa An, Ea Yông) và thành phố Buôn Ma Thuột (xã Ea Tu), với tổng diện tích khoảng 1.060 ha vào năm 2025 và 2.120 ha vào năm 2030. Cà phê vối được trồng tại hầu hết các vùng cà phê chính của tỉnh Đắk Lắk với các giống chủ lực là TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9, TR11, TR12, TR13 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp (KHKTNLN) Tây Nguyên chọn tạo. Một số dòng cà phê vô tính cũng đã được trồng thử nghiệm tại Đắk Lắk và cho thấy có thể sử dụng cho sản xuất cà phê đặc sản.
Chất lượng cà phê được hình thành từ sự kết hợp các yếu tố về hóa lý và thử nếm cảm quan. Theo Fridell, chất lượng cà phê nên tập trung vào mục đích sử dụng cuối cùng, sở thích của người tiêu dùng và có thể được đánh giá dựa trên kết quả phân loại hạt cà phê nhân (trọng lượng và kích thước hạt), kết quả phân tích thành phần hóa học (hàm lượng sucrose, trigonelline và caffeine) và kết quả đánh giá cảm quan.
Nhằm phát triển và nâng cao giá trị sản xuất cà phê, khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Văn Bằng và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu: “Xác định dòng Cà phê vối chất lượng cao phù hợp với một số vùng trồng chính ở tỉnh Đắk Lắk” nhằm đánh giá và xác định dòng, giống cà phê vối chất lượng cao phù hợp với điều kiện của tỉnh.
Tại xã Hoà Thắng, TP. Buôn Ma Thuột, dòng cà phê Dây thể hiện được khả năng sinh trưởng tốt, có kiểu tán gọn, số cặp cành mang quả đạt 12,8 cặp cành, số đốt trên cành đạt 18,3 đốt, số đốt mang quả đạt 10,7 đốt, số quả trên đốt đạt 47,8 quả, có năng suất đạt 3,30 tấn nhân/ha trong vụ bói, cao hơn 5,43% so với đối chứng TR11, kháng cao với bệnh gỉ sắt và có điểm thử nếm chất lượng 80,5 điểm, đạt tiêu chuẩn cà phê vối chất lượng cao của Viện chất lượng cà phê (Coffee Quality Institute - CQI).
Kết quả trồng thử nghiệm 3 vùng trồng cà phê của tỉnh Đắk Lắk xác định dòng cà phê Dây có năng suất trung bình 3 vụ đầu đạt 3,08 - 4,67 tấn/ha, cao hơn đối chứng TR11 từ 0,62 đến 0,81 tấn/ha, có khả năng kháng cao đối với bệnh gỉ sắt ở cả 03 địa phương thử nghiệm. Cà phê Dây có tỷ lệ thành phẩm trung bình đạt 22,7%, khối lượng 100 nhân và tỷ lệ nhân trên sàng 16 trung bình đạt 25,3g và 98%, cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng và có điểm thử nếm trung bình đạt 80,42 điểm. Lợi nhuận trồng cà phê Dây ở cả 3 điểm trồng tăng trung bình 8,06 - 21,12 triệu đồng/ha so với cà phê đối chứng TR11.
Như vậy, cà phê Dây là dòng cà phê phù hợp cho sản xuất cà phê vối chất lượng cao tại Đắk Lắk.
P.T.T (tổng hợp)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








