Việt Nam tăng bậc chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 2026
Cập nhật vào: Thứ năm - 01/10/2026 08:18
Cỡ chữ
Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) năm 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố ngày 29/9, Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo (ĐMST), đứng thứ 43 trong tổng số 139 quốc gia và nền kinh tế được đánh giá, tăng một bậc so với năm 2025, đạt mục tiêu Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026.

Các nền kinh tế ĐMST hàng đầu tiếp tục tập trung ở các khu vực phát triển
GII 2026 cho thấy Thụy Sĩ, Thụy Điển và Hoa Kỳ tiếp tục giữ Top 3. Hàn Quốc, Singapore và Anh cũng giữ nguyên thứ hạng nhờ đầu tư NC&PT và công nghiệp công nghệ cao; Singapore củng cố vai trò trung tâm ĐMST châu Á. Ở châu Âu, Anh, Phần Lan, Hà Lan, Đan Mạch duy trì thứ hạng cao nhờ hệ sinh thái nghiên cứu và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo. Trung Quốc vẫn giữ hạng 10, là nền kinh tế thu nhập trung bình duy nhất trong Top 10. Đức, Nhật Bản, Pháp, Israel vẫn trong TOP 20; Estonia, Ireland, Áo giữ vị thế ổn định, cho thấy ĐMST lan tỏa mạnh ở các quốc gia nhỏ, số hóa và công nghệ xanh. Australia đã vươn lên Top 20.
Bức tranh ĐMST toàn cầu năm 2026 cho thấy sự tập trung rõ nét của các quốc gia dẫn đầu tại ba khu vực chính gồm Bắc Mỹ, châu Âu và Đông Á – Đông Nam Á. Đây là những khu vực sở hữu hệ sinh thái KHCN&ĐMST phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực nghiên cứu mạnh và sự liên kết hiệu quả giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Ở Bắc Mỹ, Hoa Kỳ tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu khu vực về đổi mới sáng tạo, tiếp theo là Canada. Vị thế này phản ánh vai trò nổi bật của Hoa Kỳ trong các lĩnh vực công nghệ tiên phong như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ sinh học, bán dẫn, điện toán lượng tử, phần mềm và hệ sinh thái khởi nghiệp dựa trên vốn mạo hiểm.
Tại châu Âu, các quốc gia Bắc Âu và Tây Âu tiếp tục duy trì vị trí cao. Thụy Sĩ đứng đầu khu vực và đồng thời đứng đầu thế giới về ĐMST. Thụy Điển và Vương quốc Anh cũng nằm trong nhóm dẫn đầu nhờ năng lực nghiên cứu, chất lượng giáo dục đại học, mức độ quốc tế hóa và khả năng thương mại hóa tri thức.

Đông Á và Đông Nam Á nổi lên như trung tâm đổi mới sáng tạo năng động
Một xu hướng đáng chú ý trong GII 2026 là sự nổi lên mạnh mẽ của khu vực Đông Á, Đông Nam Á và châu Đại Dương như một trung tâm ĐMST quan trọng của thế giới. Trong khu vực này, Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu nhờ năng lực mạnh về công nghệ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực bán dẫn, điện tử, AI và sản xuất thông minh. Sự phát triển của các tập đoàn công nghệ lớn cùng với mức đầu tư cao cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đã giúp Hàn Quốc duy trì vị trí trong nhóm các nền kinh tế đổi mới sáng tạo hàng đầu toàn cầu.
Singapore tiếp tục là quốc gia có năng lực đổi mới sáng tạo nổi bật trong ASEAN và giữ vai trò là trung tâm công nghệ, tài chính và nghiên cứu của khu vực. Thành công của Singapore đến từ chiến lược phát triển dựa trên tri thức, khả năng thu hút các tập đoàn công nghệ quốc tế, môi trường kinh doanh thuận lợi và hệ thống nghiên cứu có tính kết nối cao với doanh nghiệp. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những trung tâm ĐMST lớn nhất thế giới khi duy trì vị trí trong nhóm 10 nền kinh tế dẫn đầu GII 2026. Sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc gắn với quy mô đầu tư lớn cho KH&CN, năng lực sản xuất công nghệ cao, hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ mạnh và những tiến bộ trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, xe điện, pin năng lượng, robot và công nghệ xanh.
Xét theo nhóm thu nhập, bảng xếp hạng GII 2026 cho thấy các quốc gia có thu nhập cao vẫn chiếm ưu thế trong nhóm dẫn đầu, với Thụy Sĩ, Thụy Điển và Hoa Kỳ đứng đầu nhóm này. Tuy nhiên, một số nền kinh tế thu nhập trung bình đã có những bước tiến đáng chú ý nhờ chiến lược phát triển KH&CN phù hợp. Trung Quốc là ví dụ tiêu biểu khi trở thành nền kinh tế thu nhập trung bình cao duy nhất nằm trong nhóm 10 quốc gia ĐMST hàng đầu thế giới. Điều này cho thấy năng lực ĐMST không chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập mà còn phụ thuộc vào khả năng xây dựng chiến lược quốc gia, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cho nghiên cứu và hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ.
Đối với nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp, Việt Nam tiếp tục được WIPO ghi nhận là một trong những quốc gia có kết quả đổi mới sáng tạo nổi bật. Việt Nam đứng thứ hai trong nhóm này, sau Ấn Độ, cho thấy hiệu quả trong việc chuyển hóa các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra đổi mới sáng tạo.
GII 2026 của Việt Nam
Việt Nam đứng thứ 43 trong tổng số 139 quốc gia và nền kinh tế được đánh giá, tăng một bậc so với năm 2025. Việt Nam tiếp tục đứng thứ hai trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp, sau Ấn Độ; đồng thời đứng thứ ba ASEAN, sau Singapore và Malaysia. WIPO cũng ghi nhận Việt Nam là một trong bảy quốc gia thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhanh nhất tính từ năm 2013 và là một trong ba quốc gia có thành tích ĐMST vượt trội so với mức độ phát triển. Kết quả này phản ánh những chuyển biến tích cực trong việc phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số, đồng thời cho thấy hiệu quả ngày càng rõ hơn trong việc chuyển hóa các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra ĐMST.
Đầu ra đổi mới sáng tạo tăng hai bậc nhờ 3 yếu tố chính
Đánh giá về kết quả này, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho rằng, việc chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng hai bậc là kết quả đáng ghi nhận, phản ánh tinh thần triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW rất quyết liệt trong hơn một năm qua.
Theo Bộ trưởng, kết quả trên đến từ 3 yếu tố chính. Thứ nhất, nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã có bước tăng mạnh mẽ. Thứ hai, từ quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, hệ thống chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang từng bước được hoàn thiện. Thứ ba là sự tham gia ngày càng rõ nét của các bên liên quan, từ Nhà nước, doanh nghiệp đến các viện nghiên cứu, trường đại học, góp phần bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam đã thay đổi cách tiếp cận, đặt khoa học, công nghệ và ĐMST vào vị trí trung tâm trong mô hình phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời tập trung hoàn thiện thể chế, ưu tiên nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, chuyển từ quản lý nặng về đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra.
Trong giai đoạn 2016-2026, Việt Nam đã có bước tiến đáng kể trên bảng xếp hạng GII. Từ vị trí 59 năm 2016, Việt Nam đã vươn lên vị trí 43 năm 2026, cải thiện 16 bậc trong vòng 10 năm. Riêng năm 2026, nhóm chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo tăng từ vị trí 37 lên vị trí 35, góp phần đưa thứ hạng chung của Việt Nam tăng một bậc.


Những điểm mạnh nổi bật trong ĐMST của Việt Nam
Một trong những kết quả nổi bật của GII 2026 là Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu thế giới ở hai chỉ số quan trọng: tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Điều này phản ánh vai trò ngày càng lớn của khu vực sản xuất công nghệ cao trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có thứ hạng cao ở một số chỉ số như tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao (hạng 3), số lượt tải ứng dụng điện thoại di động do Việt Nam phát triển (hạng 5) và tốc độ tăng năng suất lao động (hạng 6).
Các chỉ số khác cũng ghi nhận kết quả tích cực như chi cho nghiên cứu và phát triển do doanh nghiệp đảm nhận, tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân và mức độ đa dạng của sản xuất trong nước. Đơn đăng ký sáng chế theo nước xuất xứ tăng 3 bậc, lên vị trí 63; sản lượng công nghệ cao tăng một bậc, lên vị trí 25; mức độ phức tạp của sản xuất và xuất khẩu tăng 8 bậc, lên vị trí 44. Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp theo nước xuất xứ tăng 3 bậc, lên vị trí 48.
Những điểm nghẽn cần tiếp tục giải quyết
Bên cạnh những kết quả đạt được, GII 2026 cũng cho thấy một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục. Đầu ra tri thức như sáng chế và bài báo khoa học chưa được cải thiện tích cực trong những năm qua; nguồn nhân lực chất lượng cao trong các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp còn hạn chế.
Một số chỉ số liên quan đến giáo dục và nghiên cứu còn ở thứ hạng thấp. Chỉ số chi cho giáo dục tính theo GDP đứng thứ 112; bài báo khoa học quốc tế trên tỷ PPP GDP đứng thứ 106. Trong khi đó, nhóm chỉ số về lao động có kiến thức trong khu vực doanh nghiệp đứng thứ 85.
Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, để cải thiện các kết quả này, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành công nghệ chiến lược và đội ngũ có trình độ sau đại học. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế và gia tăng số lượng bằng sáng chế, bởi đây là những sản phẩm có liên quan trực tiếp đến năng lực đổi mới sáng tạo.
Bộ trưởng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp trong giai đoạn tới. Các doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư mạnh mẽ hơn về cả tài chính và con người cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo; từng bước đưa công nghệ và chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng giá trị và năng suất lao động. Chỉ khi các doanh nghiệp thực sự vào cuộc, tôi nghĩ rằng chúng ta mới có thể đạt được các mục tiêu về ĐMST theo tầm nhìn đến năm 2030 và năm 2045.

Mục tiêu hướng tới nhóm 40 thế giới vào năm 2030
Theo Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu chỉ số GII không ngừng được cải thiện, thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới. Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về ĐMST.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định một số nhiệm vụ trọng tâm gồm tiếp tục hoàn thiện thể chế; tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; thu hút các tập đoàn, công ty lớn nước ngoài hình thành trung tâm nghiên cứu và phát triển, mở rộng đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ chiến lược tại Việt Nam.
Cùng với đó là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu, tăng cường hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; thu hút nguồn vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên công nghệ; hình thành các cụm, liên kết đổi mới sáng tạo và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, hấp thụ, làm chủ công nghệ để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh.
So sánh ĐMST của Việt Nam với một số nước trong khu vực và nhóm thu nhập
Việt Nam tiếp tục đứng thứ hai trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp, sau Ấn Độ. Trong ASEAN, Việt Nam đứng thứ ba sau Singapore và Malaysia, đồng thời xếp trên Thái Lan. Kết quả này cho thấy năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang từng bước được nâng cao. Việt Nam đang nằm trong nhóm dẫn đầu các quốc gia có mức thu nhập tương đồng.


P.T (tổng hợp)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











