Nghiên cứu một số dòng/giống sắn kháng bệnh khảm lá tại tỉnh Quảng Bình
Cập nhật vào: Thứ hai - 08/12/2025 12:03
Cỡ chữ
Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là loại cây có củ quan trọng, đứng thứ 3 sau lúa và ngô về nguồn cung cấp hàm lượng carbohydrate cao và nó là nguồn nguyên liệu thô phục vụ các ngành công nghiệp chế biến cơ bản. Tại tỉnh Quảng Bình, sắn là cây trồng có vị trí quan trọng trong cơ cấu thu nhập của nhiều hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Theo số liệu thống kê năm 2022 toàn tỉnh có 6.326 ha, năng suất bình quân 191 tạ/ha và sản lượng 120.989,6 tấn, chủ yếu tập trung ở huyện Bố Trạch, với hơn 4.000 ha.

Trên địa bàn tỉnh hiện có 2 nhà máy là Nhà máy tinh bột sắn xuất khẩu Sông Dinh (nhu cầu sắn nguyên liệu khoảng 90.000 tấn củ/năm) và Nhà máy tinh bột Long Giang (nhu cầu sắn nguyên liệu khoảng 60.000 tấn củ/năm). Tuy vậy, hàng năm chỉ đáp ứng được một phần do ảnh hưởng của thiên tai, một phần do nhu cầu cung cấp nguyên liệu > 50% công suất (khoảng 80.000 tấn/năm), cho thấy sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nguyên liệu đầu vào.
Nguyên nhân được xác định là do cơ cấu giống, giống sắn chủ lực được trồng tại Quảng Bình cho đến nay là KM94, giống này đã được trồng gần 25 năm nên có biểu hiện thoái hóa, khi mới đưa về địa phương cho năng suất 50 tấn củ/ha nhưng hiện nay năng suất bình quân chỉ hơn 20 tấn/ha, đồng thời sự lan tràn của bệnh khảm lá sắn đã ảnh hưởng rất lớn đến ngành sắn Việt Nam nói chung và thực trạng sản xuất sắn tại Quảng Bình nói riêng. Theo báo cáo, năm 2023 toàn tỉnh có 6.557,3 ha sắn, trên 30% diện tích sắn bị nhiễm bệnh khảm lá (2.007 ha).
Vì vậy, Trần Thị Hoàng Đông, Trường Đại Học Nông Lâm - Đại Học Huế, và các cộng sự tại Công ty Cổ Phần Tư Vấn và Đầu Tư Long Giang Thịnh (Quảng Bình) và Trung Tâm Dịch Vụ Nông Nghiệp Huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số dòng/giống sắn kháng bệnh khảm lá tại tỉnh Quảng Bình” nhằm đánh giá khả năng thích nghi của tập đoàn giống sắn mới tại Quảng Bình để xác định các giống sắn có khả năng kháng bệnh khảm lá, năng suất và hàm lượng tinh bột cao đưa vào cơ cấu có để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu tại chỗ cho các nhà máy tại địa phương.
Các dòng/giống sắn sử dụng trong nghiên cứu đều sinh trưởng phát triển tốt, thích hợp với điều kiện tại tỉnh Quảng Bình, có thời gian sinh trưởng từ 272 - 300 ngày, độ thuần đồng ruộng đạt điểm 1, năng suất củ tươi từ 13,7 - 56,0 tấn/ha, hàm lượng tinh bột từ 22,3 - 28,8%, ít nhiễm bệnh khảm lá (trừ hai dòng/giống KM505-54 và HL-S14 bị nhiễm nặng với tỷ lệ bệnh từ 91,0 - 96,9% và chỉ số bệnh từ 86,7 - 89,3%) ở giai đoạn 6 tháng sau trồng.
HL-KM94 và HN1 là hai dòng/giống sắn phù hợp với điều kiện ở Quảng Bình, có tỷ lệ mọc mầm cao (84,4 - 97,9%), khả năng kháng bệnh khảm lá tốt, không xuất hiện bệnh ở giai đoạn cây con và mức độ nhiễm bệnh rất thấp ở giai đoạn 6 tháng sau trồng, thời gian sinh trưởng ngắn (274 - 293 ngày), ít phân cành, cho năng suất củ tươi cao (48 - 54,9 tấn/ha), chỉ số thu hoạch HI = 64,4 - 67% và hàm lượng tinh bột cao (28,5 - 28,8%).
Từ những kết quả thu được, nhóm nghiên cứu đề xuất cần tiếp tục nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác về thời vụ, mật độ trồng, liều lượng phân bón cho hai dòng/giống sắn HN1 và HL-KM94 để hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác hai dòng/giống sắn này tại Quảng Bình. Đồng thời, cơ cấu dòng HN1 vào những vùng trồng sắn áp lực nặng về bệnh khảm lá để tăng hiệu quả sản xuất cây sắn tại địa phương.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








