Phát hiện nhiều chất tân dược trong thuốc đông y bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao
Cập nhật vào: Chủ nhật - 09/11/2025 08:04
Cỡ chữ
Thị trường thuốc và thực phẩm chức năng từ dược liệu ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, không ít cơ sở sản xuất đã lén trộn thêm các hoạt chất tân dược, chủ yếu là thuốc giảm đau, kháng viêm để tạo hiệu quả tức thì, từ đó thu hút khách hàng và tăng lợi nhuận. Những dược chất này vốn chỉ được dùng trong điều trị y khoa, nếu sử dụng lâu dài sẽ dễ dẫn đến tác dụng phụ nguy hiểm như tổn thương hệ nội tiết, suy giảm chức năng cơ quan, thậm chí không thể phục hồi. Để kiểm soát tình trạng này, nhóm nghiên cứu tại Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Trung tâm Kiểm nghiệm TP. Hồ Chí Minh và Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh đã phát triển được quy trình phát hiện và định lượng đồng thời 14 dược chất tân dược có nhiều khả năng bị trộn trái phép trong thuốc đông y và thực phẩm chức năng.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã xây dựng và thẩm định một quy trình phân tích mới bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC-UV/Vis) để phát hiện và định lượng đồng thời 14 dược chất có nguy cơ bị trộn trái phép, bao gồm: betamethason, dexamethason, methylprednisolon, triamcinolon, prednison, aceclofenac, diclofenac, ibuprofen, ketoprofen, meloxicam, acid mefenamic, piroxicam, paracetamol và dexamethason acetat.
HPLC-UV/Vis cho phép tách và định lượng các chất có khả năng hấp thụ ánh sáng cực tím nhanh chóng và tin cậy. Kỹ thuật này có chi phí đầu tư và vận hành thấp hơn so với các kỹ thuật hiện đại hơn như LC-MS/MS, phù hợp với khả năng trang thiết bị của phòng thí nghiệm tại Việt Nam.
Để xây dựng quy trình phân tích, nhóm nghiên cứu lựa chọn một số chế phẩm dược liệu đang có trên thị trường làm mẫu giả lập. Những chế phẩm này đại diện cho các sản phẩm phổ biến, bao gồm các dạng lỏng, nang mềm, hoàn mềm (viên vỏ mềm chứa cao/dịch chiết), như Cao Đỗ trọng, Khu phong hóa thấp Xuân Quang, Cốt vị vương Nam Hà, Thuốc Độc hoạt tang ký sinh Bidiphar, Hoàn phong thấp. Trước khi sử dụng làm mẫu giả lập, các chế phẩm được kiểm tra bằng phương pháp LC-MS/MS (kỹ thuật tách và phát hiện các chất rất nhạy, giúp xác định sự hiện diện của dược chất tân dược) để đảm bảo không chứa chất tân dược nào.
Với mẫu thử, mỗi liều chế phẩm (15ml cao lỏng hoặc lượng nang mềm/hoàn mềm tương ứng) được hòa tan trong nước, sau đó tiến hành chiết tách bằng dung môi hữu cơ (ethyl acetat) nhiều lần để tách hoạt chất ra khỏi nền dược liệu. Phần dịch chiết được làm sạch qua cột lọc (SPE C18) nhằm loại bỏ tạp chất, rồi thu được dung dịch thử để đưa vào máy phân tích.
Ngoài mẫu thử, nhóm cũng chuẩn bị mẫu “thử thêm chuẩn” (spike), tức mẫu chế phẩm có bổ sung thêm một lượng hoạt chất đã biết trước. Nhờ đó, việc so sánh giữa mẫu gốc, mẫu thử và mẫu spike sẽ cho phép xác định chính xác hàm lượng hoạt chất. Nếu mẫu có chứa các chất thường dùng ở liều cao (như paracetamol, diclofenac, ibuprofen…), dung dịch sẽ được pha loãng thêm nhiều lần để kết quả nằm trong khoảng đo chính xác của máy. Cuối cùng, dung dịch thử được đưa qua hệ thống sắc ký lỏng, máy sẽ tách riêng từng chất và phát hiện dựa trên tín hiệu hấp thụ ánh sáng ở hai bước sóng (224 nm và 280 nm). Từ đó, hàm lượng dược chất ngụy tạo trong mỗi liều sản phẩm được tính toán một cách chính xác. Ưu điểm của quy trình là phát hiện được cả những lượng thuốc trộn cực nhỏ trong sản phẩm dược liệu.
Không chỉ vậy, quy trình còn tính toán chính xác mỗi liều sản phẩm chứa bao nhiêu miligam dược chất ngụy tạo, giúp bác sĩ có cơ sở đánh giá nguyên nhân tác dụng phụ trên bệnh nhân và cơ quan quản lý có căn cứ xử lý vi phạm.
Theo nhóm nghiên cứu, khi ứng dụng quy trình phân tích mẫu thực tế, số lần thực hiện phân tích giảm ít nhất hai lần so với các quy trình phân tích riêng lẻ nhóm corticoid hoặc nhóm NSAID và có thể giảm tối đa đến 14 lần so với quy trình phân tích từng dược chất riêng lẻ. Điều này giúp nâng cao hiệu quả giám sát, sàng lọc mẫu, qua đó tăng cường quản lý thị trường đối với các chế phẩm từ dược liệu có nguy cơ ngụy tạo tân dược.
Đồng thời, quy trình định lượng có chi phí thấp hơn ba lần so với quy trình LC-MS/MS, khi có yêu cầu xác định hàm lượng chất ngụy tạo từ bệnh nhân hoặc hỗ trợ bác sĩ xây dựng phác đồ điều trị phù hợp cho các trường hợp ngộ độc các chế phẩm thuốc đông y hay thực phẩm chức năng. Ngoài ra, phương pháp được thiết kế phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam, góp phần phát hiện và nhận diện hiệu quả hơn các sản phẩm ngụy tạo lưu hành trên thị trường.
N.P.D (tổng hợp)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








