Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ công tác cảnh báo ngập lụt hạ lưu hồ chứa nước và đề xuất giải pháp ứng phó cho các hồ, đập và vùng hạ du trong các tình huống xã lũ, vỡ đập khu vực Bắc Trung Bộ (BTB)

Việt Nam hiện có gần 7.450 hồ đập trong đó phần lớn là đập đất. Đặc biệt, các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ có gần 105 hồ chứa lớn và 1.812 hồ chứa loại vừa và nhỏ và đang bị cảnh báo nguy cơ mất an toàn. Hiện nay, tại hạ lưu các hồ chứa, công tác cảnh báo ngập lụt còn chưa được quan tâm đúng mức. Việc thiết lập hệ thống cảnh báo ngập lụt hạ lưu không những giúp cho người dân chủ động di dời khi có lũ lớn mà còn cảnh báo người dân không được xây dựng các cơ sở hạ tầng lớn trong vùng ngập, đây là vấn đề hết sức quan trọng. Việc xả lũ xuống hạ du các hồ chứa nước hiện nay thường có sự mâu thuẫn giữa Ban quản lý vận hành hồ chứa và chính quyền địa phương cũng như người dân vùng hạ du, nên việc xả lũ hồ chứa thường gây ra ngập lụt theo đó là vấn đề môi trường vùng hạ lưu.

Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Anh Đức tại Viện Khoa học tài nguyên nước đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ công tác cảnh báo ngập lụt hạ lưu hồ chứa nước và đề xuất giải pháp ứng phó cho các hồ, đập và vùng hạ du trong các tình huống xã lũ, vỡ đập khu vực Bắc Trung Bộ (BTB)” từ năm 2019 đến 2020.

Đề tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng được quy trình và khung pháp lý cho việc cảnh báo ngập lụt vùng hạ lưu trong các tình huống xả lũ, vỡ đập các hồ chứa khu vực Bắc Trung Bộ; và đề xuất được giải pháp ứng phó trong các tình huống xả lũ vỡ đập khu vực BTB.

Đề tài đã thu được các kết quả nổi bật như sau:

Thứ nhất đã đánh giá hiện trạng một số hồ đập tại các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ. Hầu hết các hồ chứa có đập dâng là đập đất và phần lớn được xây dựng trong thời gian chiến tranh với điều kiện vật tư khó khăn, thi công bằng thủ công, gấp rút nên chất lượng đập chưa đảm bảo, vì vậy hầu hết đập của hồ chứa đều có hiện tượng thấm nghiêm trọng, đe doạ đến an toàn của đập. Các công trình liên quan như cống lấy nước, tràn xả lũ do sử dụng lâu ngày nên chất lượng bê tông, kết cấu xây đều bị xuống cấp, không đảm bảo an toàn. Rất nhiều hồ chứa chưa có quy trình vận hành điều tiết, cũng chưa có kế hoạch phòng chống lụt bão và ứng cứu đập. Công tác quản lý còn mang tính hành chính. Do vậy nguy cơ rủi ro và mất an toàn cao. Chất lượng công trình xuống cấp do được đưa vào vận hành tương đối dài.

Thứ hai đã xây dựng khung pháp lý chung đối với công tác cảnh báo ngập lụt hạ du hồ chứa nước. Khung pháp lý đối với từng hoạt động cụ thể của công tác cảnh báo ngập lụt hạ du hồ chứa nước được quy định chủ yếu theo 114/2018/NĐ-CP và được hướng dẫn chi tiết hơn tại các thông tư và tiêu chuẩn kỹ thuật. Tuy nhiên, các hoạt động khác trong quy trình cảnh báo ngập lụt như xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu và xây dựng, cập nhật bộ công cụ hỗ trợ lập cảnh báo ngập lụt vẫn chưa được quy định.

Thứ ba đã xây dựng được Quy trình cảnh báo ngập lụt hạ du các hồ, đập khu vực Bắc Trung Bộ, gồm các bước (i) xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu, (ii) xây dựng các kịch bản tính toán lũ đến hồ chứa và các tình huống xả lũ, vỡ đập, (iii) xây dựng, cập nhật bộ công cụ hỗ trợ lập cảnh báo ngập lụt, (iv) xây dựng, câp nhật bản đồ ngập lụt hạ lưu ứng với các kịch bản mưa lũ và kịch bản xả lũ vỡ đập, (v) thống kê các đối tượng bị ảnh hưởng vùng hạ lưu ứng với các kịch bản mưa lũ và kịch bản xả lũ, vỡ đập. Sau đó. đề tài đã áp dụng thành công “Quy trình cảnh báo ngập lụt cho vùng hạ du các hồ, đập khu vực Bắc Trung Bộ” cho hồ chứa nước Thượng Sông Trí và hồ chứa nước Vực Tròn. Quy trình này có thể dược vận dụng cho các hồ đập khác tại lãnh thổ Việt Nam.

Để ứng phó với các tình huống khẩn cấp do xả lũ và vỡ đập, nhóm nghiên cứu đã xây dựng được bộ GPUP trong các tình huống xả lũ, vỡ đập khu vực Bắc Trung Bộ bao gồm một chuỗi các nội dung gồm: (1) Xác định trách nhiệm tổ chức điều hành thực hiện trong trường hợp khẩn cấp; (2) Phát hiện, đánh giá và phân mức độ nguy hiểm; (3) Lập cơ chế và sơ đồ thông báo; (4) Xây dựng lập bản đồ ngập lụt; (5) Lập kế hoạch sơ tán; (6) Kế hoạch ứng phó trong trường hợp khẩn cấp; và (7) Chấm dứt tình trạng khẩn cấp. Các GPUP này đã được áp dụng thử nghiệm thành công để ứng phó với các tình huống xả lũ và vỡ đập cho hai hồ chứa nước lựa chọn, đó là Hồ chứa nước Thượng Sông Trí tỉnh Hà Tĩnh và Hồ chứa nước Vực Tròn tỉnh Quảng Bình.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 19360/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

N.P.D (NASATI)