Nghiên cứu, đề xuất ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cần thiết để xây dựng cơ chế thuế, tài chính đặc thù đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng khởi nghiệp dồi dào từ một thế hệ trẻ sáng tạo có quyết tâm khởi nghiệp cao, có văn hóa khởi nghiệp và tư duy chấp nhận thất bại ngày càng được cải thiện. Hiện nay, hệ sinh thái Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (KNĐMST) đang phát triển khá mạnh mẽ, thể hiện ở số lượng và chất lượng của các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp.

Hoạt động khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam đã bắt đầu từ hơn 10 năm qua với việc hình thành một số doanh nghiệp KNĐMST trong lĩnh vực thương mại điện tử, dạy học trực tuyến. Đến nay, mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp đang hình thành và hoạt động ngày càng hiệu quả, trong đó, nổi bật là vai trò của cố vấn khởi nghiệp vốn có từ lâu ở các nước, nay dần hình thành một cách chuyên nghiệp ở Việt Nam. Thêm vào đó, đã bắt đầu manh nha mạng lưới nhà đầu tư (NĐT) cho công ty khởi nghiệp, bao gồm các NĐT trong nước và các NĐT nước ngoài. Có thể nói rằng, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam đã có đủ các thành tố quan trọng, gồm các cá nhân, tổ chức KNĐMST, NĐT thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm, tổ chức hỗ trợ kinh doanh, vườn ươm, công viên nghiên cứu, mạng lưới các huấn luyện viên/tư vấn, các cơ sở/đơn vị hỗ trợ nghiên cứu và khởi nghiệp sáng tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu… thuộc cả khối tư nhân và Nhà nước.

Tuy nhiên, số lượng của các chủ thể này ở Việt Nam hiện còn khá khiêm tốn. Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động, các DNKNĐMST luôn gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn, thiếu cơ sở sản xuất, thiếu lao động có chất lượng… Đặc biệt, các DN khởi nghiệp luôn tiềm ẩn mức độ rủi ro rất cao. Theo nghiên cứu và công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về Chỉ số khởi nghiệp Việt Nam 2014, thực trạng hoạt động khởi nghiệp của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước khác; các DN khởi nghiệp có ý tưởng kinh doanh tốt, độc đáo và sáng tạo nhưng lại không đủ tiềm lực về vốn để đầu tư, thiếu kỹ năng trong quản trị tài chính, việc kêu gọi các NĐT góp vốn gặp nhiều khó khăn… Chính vì vậy, rất cần Nhà nước phải có các cơ chế, chính sách phù hợp đối với các DNKNĐMST nhất là trong điều kiện hội nhập như hiện nay, trong đó có cơ chế thuế, cơ chế tài chính. Khi các DN khởi nghiệp nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước sẽ có điều kiện phát triển, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trên cả nước, tạo lập một hệ sinh thái khởi nghiệp hiệu quả cao ở Việt Nam.

Xuất phát từ thực tiễn trên, TS Nguyễn Huy CườngTS Nguyễn Đào Tùng cùng nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Ươm tạo và Hỗ trợ doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ - Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ đã thực hiện “Nghiên cứu, đề xuất ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cần thiết để xây dựng cơ chế thuế, tài chính đặc thù đối với tổ chức và các cá nhân có hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hoặc đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo để thúc đẩy môi trường khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” với mục tiêu nghiên cứu các luận cứ khoa học và thực tiễn để đề xuất nội dung đổi mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cần thiết để xây dựng cơ chế thuế, cơ chế tài chính đặc thù đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động KNĐMST hoặc đầu tư cho KNĐMST, nhằm thúc đẩy hoạt động KNĐMST, xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới.

Ở nước ngoài, có khá nhiều bài nghiên cứu về KNĐMST và cơ chế thuế, cơ chế tài chính dành cho DN khởi nghiệp.

Gavin Cassar (2004) đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn và các loại sản phẩm tài chính mà các DN khởi nghiệp sử dụng bằng cách thực hiện cuộc điều tra. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng, quy mô khởi nghiệp, cơ cấu tài sản, loại hình tổ chức, hướng phát triển và đặc điểm của chủ sở hữu là các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn hình thức tài trợ vốn của DN.

Massimo và Luca đã thực hiện nghiên cứu về hỗ trợ các DNKNĐMST dựa trên công nghệ, bài học từ chính sách công nghệ của Italia. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cần thiết phải có các chính sách cụ thể cho các DNKNĐMST dựa trên công nghệ.

Ở Việt Nam, thuật ngữ quốc gia khởi nghiệp, KNĐMST và DNKNĐMST được xuất hiện nhiều trong mấy năm gần đây. Nhiều sách chuyên khảo, bài viết về quốc gia khởi nghiệp, KNĐMST và DNKNĐMST theo các nội dung như bí quyết khởi nghiệp, bài học kinh nghiệm khởi nghiệp, những thất bại khi khởi nghiệp… đã xuất hiện nhiều trên các quầy sách ở Việt Nam.

Thực tế ở Việt Nam, việc ban hành và thực thi các chính sách hỗ trợ hoạt động KNĐMST cũng như đầu tư cho KNĐMST đã và đang được thực hiện, nhưng cơ chế thuế, cơ chế tài chính đối với các tổ chức, cá nhân có các hoạt động này nhằm thúc đẩy hoạt động KNĐMST và hỗ trợ các DN KNĐMST phát triển thì chưa được thực hiện nhiều, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. Do đó, các nghiên cứu cụ thể tập trung vào vấn đề này cũng chưa được triển khai nhiều trong thời gian gần đây. Đây chính là những khoảng trống cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu, khoảng trống này sẽ được đề tài này tập trung nghiên cứu, khai thác nhằm làm rõ các căn cứ khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất đổi mới, bổ sung các quy định của pháp luật thuế, pháp luật về tài chính cũng như cách thức vận hành, triển khai, thực thi các chính sách này nhằm phát triển hoạt động KNĐMST ở Việt nam trong thời gian tới. Chính vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu vấn đề cơ chế thuế, cơ chế tài chính và hoàn thiện cơ chế thuế, cơ chế tài chính đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động KNĐMST hoặc đầu tư cho KNĐMST ở Việt Nam sẽ không hoàn toàn bị trùng lắp với các công trình nghiên cứu khác trước đó.

Hoạt động khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam đã bắt đầu từ hơn 10 năm trước với việc hình thành một số DNKNĐMST trong lĩnh vực thương mại điện tử, dạy học trực tuyến.

Có thể nói được rằng, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam hiện có thể xem là đã bao gồm đầy đủ các thành tố quan trọng để có thể phát triển.

Tuy nhiên, cho đến này, số lượng các chủ thể KNĐMST ở Việt Nam được đánh giá là còn khá khiêm tốn và thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động.

Nhà nước cần phải có các cơ chế, chính sách phù hợp đối với các DNKNĐMST nhất là trong điều kiện hội nhập như hiện nay, trong đó có cơ chế thuế, cơ chế tài chính

Cơ chế thuế, tài chính được xây dựng và sử dụng phù hợp sẽ có tác động trực tiếp đến lợi ích và các điều kiện then chốt trong hoạt động của NNT là các tổ chức, cá nhân KNĐMST hoặc đầu tư cho KNĐMST, khi Nhà nước có cơ chế thuế, tài chính hỗ trợ đối với các DNKNĐMST sẽ tạo ra niềm tin của cộng đồng doanh nhân vào sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước, góp phần thúc đẩy hoạt động KNĐMST nhằm khơi thông nguồn vốn dồi dào đưa vào sản xuất kinh doanh, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực trẻ, sáng tạo vào hoạt động kinh doanh, đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

Thứ nhất, làm rõ nền tảng, cơ sở lý luận về hoạt động KNĐMST 53 và cơ chế thuế, cơ chế tài chính đối với tổ chức và cá nhân có hoạt động KNĐMST hoặc đầu tư cho KNĐMST. Trong đó, đề tài đã tập trung phân tích các nội dung của cơ chế thuế, cơ chế tài chính đặc thù đối với các đối tượng này; các tác động của cơ chế thuế, cơ chế tài chính đặc thù đối với các đối tượng này trên các góc độ khác nhau hướng đến mục tiêu hỗ trợ tối đa cho hoạt động KNĐMST.

Thứ hai, Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về xây dựng cơ chế thuế, cơ chế tài chính đối với hoạt động KNĐMST, trong đó tập trung về xây dựng và hình thành các quy định áp dụng riêng đối với hoạt động KNĐMST, đối với các DNĐMST và rút ra các bài học có thể vận dụng cho Việt Nam trong lĩnh vực này.

Thứ ba, Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động KNĐMST và đầu tư cho KNĐMST ở Việt Nam thời gian qua, chỉ ra những kết quả chung cũng như những hạn chế, bất cập gặp phải của hoạt động này. Đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng thực trạng cơ chế thuế, cơ chế tài chính đối với tổ chức và cá nhân có hoạt động KNĐMST hoặc đầu tư cho KNĐMST ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được, các hạn chế của các cơ chế này để làm cơ sở thực tiễn đề xuất các giải pháp theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

Thứ tư, Trên cơ sở các cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài đã xác định các quan điểm, mục tiêu, phương hướng trong việc hoàn thiện cơ chế thuế, cơ chế tài chính đối với hoạt động KNĐMST ở Việt Nam trong thời gian tới. Từ đó, đề tài đã đưa ra các kiến nghị, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện (xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung) cơ chế thuế, cơ chế tài chính đối với tổ chức và cá nhân có hoạt động KNĐMST hoặc đầu tư cho KNĐMST ở Việt Nam trong thời gian tới.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 19305/2021) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

Đ.T.V (NASATI)